Sự dễ dãi trong sản xuất
Nếu phân tích vì sao có một bộ phim dở thì chắc chắn đó là một điều vô cùng ngớ ngẩn bởi trên thế giới có biết bao bộ phim dở vẫn ra rạp nhưng nếu xét ở mặt bằng Việt Nam với số lượng đầu phim mỗi năm ra rạp thật khan hiếm như hiện nay thì việc có quá nhiều món dở được bưng bày lên trong bàn tiệc là điều khó chấp nhận được.
Vẫn biết kinh doanh chiếu bóng hiện đang là ngành kinh doanh siêu lợi nhuận (nhưng cũng đầy rủi ro) thì việc các bộ phim ra rạp đều đặn là một mối lời lớn dễ dàng nhìn thấy của các đơn vị sản xuất phim. Chẳng thế mà các hãng sản xuất phim mọc lên như nấm. Nhưng, dễ dãi đến mức độ làm một bộ phim không tìm được điểm nào để khen như HIT-Episode 1: Hoàng tử và Lọ lem mới ra rạp gần đây của Ngô Quang Hải lại là một chuyện khác. Một bộ phim không có chút xíu gì ấn tượng, không tìm được bất cứ một điểm sáng nào của một vị đạo diễn đã được đánh giá cao sau thành công vang dội của Chuyện của Pao cách đây vài năm.
Bộ phim của Ngô Quang Hải cho thấy một tư duy sản xuất cẩu thả hết mức. Bối cảnh chỉ là vài con đường xung quanh khu trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, một ngôi nhà, một sàn nhảy và một cái kho. Những cảnh quần chúng thì đi quay nhờ ở các đêm ca nhạc khác, cắt ghép để có thể thấy sự sôi động của đêm diễn. Âm thanh thì không khớp với khẩu hình của diễn viên. Lỗi kĩ thuật dựng và tráng dựng bản phim thấy rõ với những vết chia cắt màn hình thành hai màu.
Đây mới chỉ là một ví dụ cụ thể và gần gũi nhất trong số các ví dụ được đưa ra trong sự dễ dãi về sản xuất của các nhà sản xuất phim hiện nay. Số tiền sản xuất chắc chắn rất thấp, kinh phí chi trả cho các bộ phận, điều kiện di chuyển và dàn dựng các bối cảnh để phù hợp và cụ thể với từng nhân vật cũng không nhiều. Vậy thì, với sự nghèo nàn và xơ xác về cách sản xuất như vậy không hiểu họ trông mong gì ở nguồn kinh phí thu về? Một sự coi thường khán giả thấy rõ. Những bộ phim như Nàng men - Chàng bóng, Hế-lô cô Ba, v.v… cũng vậy, chẳng khá hơn là bao.
Coi thường hay không chịu để khán giả lớn lên?
Không khó để thấy một xu hướng làm phim hiện nay ở Việt Nam là thấy nhu cầu của khán giả ở thể loại phim nào là các nhà sản xuất đổ xô vào lĩnh vực đó để câu kéo tiền khán giả. Đó là một điều đang giết chết nền điện ảnh bởi tính định hướng và xu hướng hoàn toàn không có.
Phước Sang hơn ai hết "ngấm đòn" về cái gọi là thị hiếu khán giả khi nhiều năm liên tiếp tung những bộ phim chất lượng thấp ra rạp trong dịp Tết như Võ lâm truyền kỳ; Công chúa teen và Ngũ hổ tướng; Hế-lô cô Ba; Iu anh, em dám hok?;v.v… Đi theo xu hướng hài thọc léc khán giả theo hướng thời vụ, Phước Sang đã làm giàu cho chính bản thân và doanh nghiệp của mình không nhiều nhưng khi một món ăn được làm đi làm lại mãi thì bản thân những người ăn cũng ngán. Hơn nữa, giới truyền thông bây giờ cứ hễ nhắc tới chữ "phim Phước Sang" là họ sợ. Họ sợ bởi phim quá dở, không có gì để viết và để nói về bộ phim đó.
Tương tự như vậy là những bộ phim như Em hiền như Ma-Sơ; Nàng men - Chàng bóng; Giữa hai thế giới; Cột mốc 23, Cát nóng… những bộ phim lỏng lẻo về cốt truyện, phi logic trong cách kể và đặc biệt là "truyền hình hóa điện ảnh" cũng đang dần trở thành những món hàng chất lượng thấp trong một thị trường chung vốn đã khan hiếm những sản phẩm "dùng được".
Một cách chủ quan không thể đổ lỗi hết cho khán giả được, nếu như họ quay lưng lại với những bộ phim Việt cũng như có những cái nhìn nghi ngại mỗi khi ra rạp chiếu nếu có nhìn thấy những poster phim Việt. Đơn giản là bởi họ đã được xem, thưởng thức (một cách chịu trận) những bộ phim quá dở để những tác phẩm đến sau đó, cho dù có tốt hơn bao nhiêu đi chăng nữa, cũng luôn bị xếp vào một hàng và bị nhận một cái thở dài: Ôi, phim Việt đừng có mà xem!
Khán giả xem phim hiện nay đa phần là khán giả trẻ, hơn ai hết, họ là đối tượng đang được cập nhật, tiếp thu và ảnh hưởng quá nhiều từ những luồng văn hóa phương Tây, trong đó có điện ảnh. Họ thừa sức để cảm thụ đâu là một bộ phim tốt, đâu là một bộ phim dở, đâu là những màn "sân khấu hóa điện ảnh" với những tràng cười lạt nhách. Nếu không có những bản nghiên cứu thị trường một cách nghiêm túc thì việc đánh giá sai thị hiếu khán giả là một điều hết sức nguy hiểm khi luôn mặc định khán giả cần cái gì dễ dãi, nhẹ nhàng, thậm chí là cười hi hi ha ha xong bước ra khỏi rạp là quên hết. Điều đó khiến cho khán giả không (thể) "lớn" được cũng như mặc định rằng tiêu chuẩn của họ chỉ có thể trong khi thực tế họ muốn cao hơn.
Nền điện ảnh nào cũng có phim hay phim dở nhưng nhiều phim dở như Việt Nam chắc hiếm. Và cũng thật ngạc nhiên là chưa từng có bất cứ ai, doanh nghiệp nào làm một khảo sát về điều khán giả nghi ngại nhất với phim Việt chiếu rạp dạng như kiểu họ tin bao nhiêu phần trăm đó là bộ phim hay; họ chờ đợi những ngôi sao nào; họ đặt niềm tin cao hay thấp vào điện ảnh Việt… Chừng nào có một bản nghiên cứu định kì thường niên như vậy và được cung cấp phổ biến thì chừng đó những nhà sản xuất phim mới sẽ biết được khán giả yêu cầu gì, trông mong gì để từ đó có những quyết sách đúng hơn với việc sản xuất của mình. Còn nếu như "dựa tìm" ngày nào thì ngày đó còn là sự mù mờ, có thể là xa lộ thênh thang đường sáng nhưng cũng có thể là… hố tử thần.
Trách nhiệm của những người kiểm duyệt
Cách đây không lâu, một hội nghị về Điện ảnh với sự tham gia của hàng trăm đại biểu đại diện cho hàng chục lĩnh vực khác nhau trong quy trình sản xuất phim. Trong đề án phát triển điện ảnh đó, người ta nhắc đến Cannes; Oscar và những kế hoạch, mục tiêu vĩ mô mà quên mất điều tối thiểu: chất lượng phim.
Đương nhiên, Cục Điện ảnh là nơi chịu trách nhiệm lớn nhất về chuyện cấp "thẻ xanh" để cho những bộ phim ra rạp. Quyền sinh quyền sát nằm trong tay mười mấy thành viên hội đồng duyệt phim quốc gia. Họ là những người có thâm niên trong nghề, là bậc cha bậc chú với những giải thưởng lớn từ cấp quốc nội đến quốc ngoại, hẳn nhiên là họ uy tín. Vậy nhưng, thực tế lại cho thấy con mắt của họ về duyệt phim đang có vấn đề.
Có những bộ phim dở như đã nêu tên ở trên vẫn được cấp phép ra rạp thì quả thật là Cục đã làm việc một cách hết sức "rộng lượng" để tạo lối thoát cho những nhà sản xuất đã trót bỏ tiền vào những món hàng dở. Đành rằng đã bỏ tiền làm phim mà không được ra rạp thì cũng là điều đau khổ bất hạnh nhưng phim dở ra rạp lại hành hạ báo giới (đau đầu viết bài) và khán giả (chịu đựng thưởng thức) và bất nhẫn với những người đầu tư (muối mặt khi gắn tên với những sản phẩm thứ cấp được tài trợ).
Một vài bộ phim đã bị cấm không cho ra rạp như Bẫy cấp 3; Bụi đời Chợ Lớn với những vấn đề liên quan đến bạo lực và tình dục. Có những lí do từ những người kiểm duyệt để hai bộ phim kể trên không được ra rạp và chiểu theo những quy chế kiểm duyệt, Luật Điện ảnh thì rõ ràng hội đồng kiểm duyệt đã đúng. Nhưng, trong một quãng thời gian dài, chúng ta hô hào rằng: "Vì một nền điện ảnh tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" - thì cần định nghĩa lại chữ "tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc" bởi đơn giản là thực tế không có nhiều bộ phim "tiên tiến" chứ chưa vội nói về chữ "đậm đà bản sắc dân tộc".
Những bộ phim hài với những mối tình tay ba tay tư, những màn hôn hít phản cảm, những lời thoại ngô nghê đến ngốc nghếch, những cảnh quay cẩu thả, tư duy làm phim lạc hậu và chất lượng đầu ra luôn dưới mức trung bình thì lấy đâu ra sự "tiên tiến". Có nên nghĩ đến chuyện kiểm duyệt tất cả các kịch bản dự định đưa vào sản xuất và rồi yêu cầu biên kịch, đạo diễn chỉnh sửa để nó bớt dở đi? Điều đó hoàn toàn nằm trong tầm tay của cơ quan lãnh đạo cao nhất về điện ảnh. Còn nếu điều đó mà không thực hiện được vì những lí do nào đó liên quan đến chuyên môn thì quả thực cũng nên xem xét lại vấn đề con người.
Thường thì khán giả, báo giới sẽ luôn trách móc và bắt đạo diễn phải chịu trách nhiệm về việc những bộ phim thất bại cả về doanh thu lẫn chất lượng. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Đúng là họ thể hiện tài năng của mình yếu kém. Thiếu là bởi họ là những người đau đớn nhất nếu phim thất bại dẫn đến danh tiếng của họ cũng suy giảm. Nhưng, có ai nghĩ đến cảm giác của khán giả bỏ tiền mua vé xem phim khi luôn có cảm nhận như kiểu bị lừa.
Khán giả chính là người đóng thuế để vận hành nhiều cơ quan trong xã hội, trong đó có cả điện ảnh và cơ quan đại diện điện ảnh, vậy nhưng những gì mà cơ quan này kiểm duyệt và để "lọt cửa" thì thật là một điều đáng trách. Ít nhất là với những đồng tiền thuế đang thu lại được về từ chính khán giả xem phim. Một đòi hỏi về trách nhiệm với những đồng thuế của nhân dân có phải là điều quá to tát? Có lẽ câu trả lời sẽ vô cùng khó bởi chỉ có người trong cuộc mới trả lời được. Chỉ hi vọng, chừng nào suy nghĩ đó được dùng làm "kim chỉ nam" trong công việc của Cục thì ngày đó điện ảnh Việt mới có cơ hội được "ngẩng cao đầu" một cách có chiến lược chứ không lắt nhắt, manh mún và mang tính chất tự thân vận động nhiều như hiện nay