1. Tổ dân phố số 24 thuộc phường Đồng Tiến mà người dân TP. Hòa Bình thường gọi là xóm Can. Đây là một khu dân cư nằm gọn trong một khe núi hẹp mà mỗi bên, dù đã bạt đồi, cũng chỉ đủ chỗ cho một dãy nhà. Nếu không hỏi thăm mà có ý tự khám phá thì chỉ khoảng 20 phút là biết tổng số hộ của cái tổ dân phố này. Vì ở trong khe núi nên nhà nào cũng là nhà mặt đường. Đang đi, đang đếm thì tôi gặp ba ông già đang ngồi chuyện trò sôi nổi. Lắng nghe, tôi thấy các cụ đang nhắc đến một ông Thám nào đó mà dân ở đây nhớ lắm, nhớ vì ông là người có công mở mang cái xóm này.
Hỏi ra mới biết, người không bị lãng quên đó là cựu chiến binh, thương binh Vũ Minh Thám, nguyên Chủ tịch UBND phường Đồng Tiến đầu những năm 90 của thế kỷ hai mươi. Vừa ca ngợi công lao của vị Chủ tịch cũ, các cụ vừa nhắc đi nhắc lại: “Nhờ anh tìm xem bây giờ ông ấy đang ở đâu, cho chúng tôi gửi lời hỏi thăm và cám ơn ông ấy nhé!”. Cảm động trước tình cảm chân thành của người dân đối với vị Chủ tịch phường năm xưa, cộng với sức hấp dẫn của một thông tin quý, tôi hứa sẽ nhanh chóng đáp ứng nguyện vọng của các cụ.
Theo lời một trong ba cụ thì ông Vũ Minh Thám có thể đang ở phường Chăm Mát, tôi liền nhờ Trưởng Công an phường Chăm Mát tìm hộ. Chẳng hóa đâu xa, Vũ Thị Thu Hiền - con gái đầu của ông Thám lại đang ở cạnh Công an phường. Hiền tươi cười nói với tôi: “Bố mẹ cháu ở ngõ Gốc Gạo, phường Đồng Tiến. Chú chỉ cần đến đầu ngõ, hỏi nhà ông Thám thì ai cũng biết”. Tôi lập tức quay trở ra Đồng Tiến thì ông Thám vừa về quê Nam Định những chục ngày. Tuy chưa gặp được người cần gặp, nhưng tôi cũng điện ngay cho cụ Hồ Văn Quý – một trong ba cụ già mà tôi đề cập ở trên, là tôi đã tìm được ông Vũ Minh Thám để các cụ mừng.
Áng chừng thời gian ông Thám trở lại Hòa Bình, tôi có mặt tại nhà ông. Vẫn căn nhà cấp 4, vợ chồng ông mua lại của người ta từ cái thời bao cấp. Nhưng, ngồi trong căn nhà có thể nói quá bình dị ấy, tôi được gặp những giá trị lớn lao. Sự cương trực thể hiện khí phách người lính. Sự rõ ràng, minh bạch của người lãnh đạo địa phương. Sự gương mẫu của người công dân, người chồng, người cha, người ông cứ ngời lên, tỏa ra, cuốn hút tôi ngay từ những phút đầu buổi nói chuyện.
Năm 1961, vừa tròn mười tám tuổi, chàng thanh niên Vũ Minh Thám tạm biệt vùng quê nghèo Yên Trị, Ý Yên, Nam Định lên đường nhập ngũ. Tháng 10/1963, Thám vào Nam. Từ 1964, anh liên tục chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên. Năm 1969, ở cương vị Tiểu đoàn trưởng, 4 lần Thám bị thương, với hàng chục vết thương chằng chịt cơ thể. Năm 1970, sau lần đại phẫu ở Quân y viện 108, Vũ Minh Thám được điều về giữ trọng trách Chỉ huy phó Đoàn 500 – Quân khu Ba, với nhiệm vụ quai đê lấn biển. Từ một người lính chiến xông pha trận mạc, nay đảm nhận nhiệm vụ làm kinh tế nên không ít khó khăn. Nhưng với tính năng động của con người đầy nhiệt huyết, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Năm 1987, thương binh 2/4, mất 71% sức khỏe - Vũ Minh Thám được nghỉ hưu. Từ đây, ông về hẳn với vợ con ở phường Đồng Tiến – TP. Hòa Bình.
Là thương binh nặng về hưu, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ông Thám lại được bà con đề nghị tham gia công tác địa phương. Ông Thám nghĩ: mình đã từng là người lính xông pha trận mạc, bị thương nhiều lần mà không chết. Nay, cố gắng làm được việc gì có ích, dù nhỏ, cho dân nơi mình đang sống. Và để làm được việc nho nhỏ ấy thì trước hết, nhà mình phải yên đã. Từ đó, ông Thám đã tập trung giải quyết có hiệu quả những khiếm khuyết của gia đình mình. Người dân ở phường Đồng Tiến còn nhớ lắm việc ông Thám công khai trong các cuộc họp lãnh đạo địa phương cũng như trong diễn đàn của các tổ chức, đoàn thể về việc con rể của ông nghiện ma túy, vợ ông có tham gia đánh đề. Từ đó ông đề nghị chính quyền, đoàn thể và dân phố cùng ông giải quyết dứt điểm các tồn tại của gia đình mình.
2. Thành phố Hòa Bình là một trong những điểm nóng của cả nước về tệ nạn ma túy. Riêng ngõ nhà ông Thám đã hàng chục thanh niên nghiện hút. Có gia đình tới 3 người con dính vào ma túy. Có gia đình, cả bố, cả con điều nghiện hút. Ông Thám bức xúc: Tôi không so sánh tính chất giữa những cái chết mà chỉ so sánh những con số. Rồi ông bấm đốt ngón tay: Cả hai cuộc kháng chiến, mấy tổ dân phố trong cái ngõ này cũng chỉ có chưa đến chục người hy sinh nơi trận mạc. Thế mà thời bình, chỉ vài năm thôi mà đã mấy chục thanh niên chết vì ma túy. Thậm chí có nhà 2 – 3 đứa. Đau xót lắm!
Khi biết con gái mình yêu một thanh niên mắc nghiện trong cùng tổ dân phố, ông Thám không cấm đoán. Bằng tình thương và trách nhiệm, ông gặp riêng con rể tương lai để khuyên can. Sau đó ông nhờ Chính quyền, đoàn thể đứng ra tổ chức đám cưới cho các con ông tại trụ sở UBND phường. Tại đám cưới, chú rể công khai hứa trước toàn thể hội hôn cương quyết từ bỏ ma túy. Sau đó ông tìm một địa điểm vườn rừng trong xã Dân Chủ để vợ chồng con gái ông vào đó sản xuất và cai nghiện. Còn đối với người vợ a dua đề đóm, ông cũng đề nghị Hội Phụ nữ kiểm điểm. Vợ ông phải làm bản cam đoan từ bỏ đề đóm. Cái sự rõ ràng, minh bạch của ông Thám trước hết là đối với bản thân và gia đình mình là như vậy.
Năm 1990, Vũ Minh Thám được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch UBND phường Đồng Tiến. Khi được dự kiến bầu vào Cấp ủy và Chủ tịch UBND phường, ông Thám đã gặp Bí thư Đảng ủy Nguyễn Xuân Trường đề nghị xin rút khỏi danh sách với những lý do: Sức khỏe không đảm bảo; con rể ông nghiện ma túy; vợ ông chơi đề, nếu ông làm Chủ tịch phường lo rằng khó hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Bí thư Đảng ủy phường tươi cười, động viên: “Thông qua việc giải quyết việc gia đình của anh, cán bộ và nhân dân ở phường này đang tin tưởng và trông chờ vào anh đấy”. Thế là người thương binh Vũ Minh Thám yên tâm lao vào công việc. 1990 -1991, những năm đầu bước vào công cuộc đổi mới với vô vàn khó khăn.
Khó khăn về kinh tế, đời sống thì ai cũng nhìn thấy. Nhưng đối với những người lãnh đạo thì những khó khăn trong nhận thức, trong tư duy còn đáng sợ hơn nhiều. Quay lại cái tổ dân cư số 24 – khu nghèo nhất của thị xã Hòa Bình trước đây, để phần nào thấy tại sao hiện nay bà con mang ơn ông Vũ Minh Thám.
Thời ấy, những người rất nghèo ở thị xã và những người khó khăn nơi xa đến, đa số, chỉ biết tìm đến những vùng giáp ranh thị xã với các xã lân cận. Khe suối xóm Can là một địa chỉ như vậy. Thực chất khu này trước đây thuộc địa phận xã Sủ Ngòi. Đồi, rừng nơi đây chỉ là chỗ kiếm củi đun của bà con sở tại. Người dân thị xã thì tập trung vào phá rừng và tranh thủ trồng ngô, sắn kiếm sống. Nói tóm lại là chỗ để phá rừng lấy cái ăn trước mắt.
Khi nhà nước bắt đầu có chủ trương trồng rừng theo các dự án 3352, 327 mà lúc đó chủ yếu là trồng cây keo thì quả là một cuộc vận động rất lớn, rất công phu và gian khổ. Lần đầu tiên thấy nói đến trồng rừng. Đang đói chạy ăn từng bữa ở sông trên (Hồ Hòa Bình) mà bảo ở nhà trồng rừng là chuyện lạ. Thế rồi chỉ tiêu giao về, nhiều người cho là việc bắt buộc thì phải làm, hoặc nhận đồi, trồng lấy cây, lấy diện tích mà kiếm gạo thôi chứ chẳng trông chờ việc thu hoạch rừng sau này. Ngay trong lãnh đạo phường, cũng không ít người bĩu môi: Dân phố thì trồng rừng thế nào được!
Trong hoàn cảnh ấy, ông Thám đã nhìn ra vấn đề. Nếu người nông dân miền xuôi phải có ruộng, thì người miền núi phải có rừng. Một mặt ông vận động bà con nhận đất trồng rừng, một mặt ông bám sát Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Sủ Ngòi để làm thủ tục xin gần 100 ha đồi rừng cho nhân dân tổ 24. (Sau này, ông Thám vào cám ơn nhân dân Sủ Ngòi đã cưu mang cắt nhường đất cho nhân dân Đồng Tiến). Khi đã chính thức có đất, Đảng ủy ra nghị quyết, Chi bộ ra nghị quyết rồi xuống họp với dân.
Là Chủ tịch phường, nhưng ông Thám dành 2 ngày trong một tuần, lại bi đông, cơm nắm hoặc bánh mỳ cùng leo đồi, đo, đếm rồi trồng rừng với bàn con. Không phải là hứa nữa, ông Thám đã thề trước nhân dân là phải trồng bằng được rừng. Ông Thám chỉ đạo lập mỗi hộ một quyển “Sổ gạo PAM” để từng hộ nhận trực tiếp phần gạo của mình. Cách làm ấy đã tránh thất thoát hay bớt xén của dân. Từ đó nhân dân tin tưởng vào ông Thám mà tích cực trồng rừng và bảo vệ rừng trồng.
Vốn là một khe đồi như đã nêu, vào xóm Can chỉ có một con đường mòn ven đồi, lội suối và chỉ có đi bộ. Bà con kiếm phên gianh, bó củi đều phải cõng trên lưng, đội trên đầu. Ước mơ của ông trước mắt là phải có đường dù chỉ vừa cho xe công nông. Thế là, đi đôi với trồng rừng, ông Thám nghĩ ngay tới việc tranh thủ nguồn gạo hỗ trợ của dự án để mở đường giao thông. Chỉ riêng việc mở đường, cùng lúc ông Thám tập trung 3 vấn đề. Một là, xin hỗ trợ một phần bằng gạo của dự án trồng rừng. Hai là, vận động các gia đình trích đóng góp một phần gạo từ kết quả trồng rừng. Ba là, vận động các gia đình hiến đất mở đường.
Nhân dân tin tưởng ở lãnh đạo đã đoàn kết, bạt đồi, kè suối mở nền đường. Sự minh bạch cộng với kết quả của việc làm vì dân, ông Thám đã thành công (Nói thêm, nhà ông Thám không ở xóm này). Đầu tiên là gia đình Bí thư chi bộ, các cấp ủy xung phong hiến đất trước, thế là tất cả các hộ làm theo. Mọi nhà tự giải phóng mặt bằng trong thời gian sớm nhất. Có mặt bằng, ông Thám liên hệ với một đơn vị bộ đội vào thi công, chẳng bao lâu, một con đường rộng 6 mét, dài trên một km, đã nối dài từ quốc lộ 6 vào khắp xóm Can.
Có rừng, có đường, đấy là tiền đề quan trọng để nhân dân yên tâm phát triển kinh tế. Đất rừng thì bà con có sổ giao nhận 50 năm. Nhà nhà chú trọng đầu tư vào rừng. Hết lứa rừng này đến lứa khác. Thu nhập không phải tiền triệu mà là hàng chục triệu đồng. Kinh tế từ đây mà phát triển. Chính gia đình ông Hồ Văn Quý – một trong ba cụ già nhờ tôi tìm hộ địa chỉ ông Vũ Minh Thám là một minh chứng.
Năm 1987, rời quân ngũ về quê Hà Nam, sau khi hết tiêu chuẩn lương thực 6 tháng cho quân nhân phục viên, ông Quý không biết làm gì để lấy cái ăn cho một gia đình 8 khẩu (bố, mẹ già, vợ chồng ông và 4 con nhỏ). Có người quen gợi ý, ông Quý đưa vợ và 4 con lên Hòa Bình. Vợ con ông nhớ như in những năm tháng dựng lều tá túc trong đồi Cháy xóm Can. Công việc lúc đó là ra sức phá rừng trồng ngô, khoai, sắn và chặt củi bó gánh xuống chợ Đồng Tiến bán lấy tiền mắm muối.
Năm 1992, khi có chủ trương phủ xanh đất trống, đồi trọc, gia đình ông Quý nhận 5 ha đồi dốc để trồng rừng. Có đất rừng lâu dài, ông động viên vợ con bám đất. Lấy ngắn nuôi dài. Dưới tán keo, là sắn, ngô, khoai sọ để giải quyết cái ăn trước mắt. Năm 2000, gia đình ông thu hoạch lứa rừng đầu tiên bán được 15 triệu đồng. Bằng tiền thu hoạch rừng, ông lấy vợ, làm nhà cho người con trai lớn, chia cho mỗi con 2,5 triệu, còn lại tiếp tục đầu tư vào rừng.
Lúc này không phải lấy ngắn nuôi dài nữa mà là rừng nuôi rừng. Những năm đầu của lứa rừng thứ hai, đất rất tốt. Xen với keo 1 – 2 – 3 tuổi là sắn, ngô, khoai cho năng suất cao lại không phải làm cỏ cho rừng. Bằng nguồn thu nhập chính từ đất rừng, vợ chồng ông Quý lo gia đình riêng xong cho các con và cho mỗi anh chị một số vốn để tự lập. Sau đó ông làm được nhà và đầu tư chăn nuôi. Riêng lợn, mỗi năm ông xuất chuồng từ 2,5 – 3 tấn. Chính ông Quý là người đầu tiên mở ra phong trào nuôi ong mật ở khu dân cư này. Năm 2012, với hơn 40 tổ ong, ông thu 120kg mật.
Câu lạc bộ Nuôi ong trong tổ hiện đã gần 20 thành viên. Cứ đến kỳ nhà ai quay mật thì cả câu lạc bộ tập trung vào. Những giọt mật ong đầu tiên vàng óng và thơm lừng được pha rượu ngay để cùng nhau thưởng thức. Ông Quý hỏi ghi số điện thoại của tôi để hôm nào nhà ai đó quay mật sẽ điện cho tôi đến chứng kiến và thưởng thức. Còn về rừng, tháng 10 năm 2008, ông vừa thu hoạch xong lứa thứ hai, bán được 120 triệu. Ông bà chia cho mỗi con 15 triệu, còn lại tiếp tục đầu tư vào rừng.
3. Tất cả là bắt đầu từ thời ông Vũ Minh Thám – ông Quý nhắc lại như sợ tôi quên. Không có rừng, chúng tôi làm sao được như bây giờ? 100% gia đình ở cái xóm nghèo này đã có nhà xây. Thu nhập bình quân năm 2011 là gần 20 triệu đồng/ người/ năm. Cái quan trọng là nguồn thu của dân ở đây bền vững. Cái ngắn, không lớn nhưng lại được thu ngay. Cái dài thì lại có món để làm những việc lớn. Hơn 110 hộ với gần 600 nhân khẩu ở cái xóm Can ngày trước, tổ 24 ngày nay được như bây giờ đều nhờ vào đất rừng. Hàng ngày, bước ra con đường bê tông rộng 6 mét ở cái xóm khe suối, đối với chúng tôi là sung sướng lắm rồi! Chúng tôi làm sao quên được cái ơn của ông Thám.
Lại được biết thêm chuyện mở đường khu dân cư, nơi có gia đình ông Thám ở. Năm 1993, khi có chủ trương mở rộng đường từ 4 lên 6 mét để kiên cố hóa. Ông Thám là người đầu tiên xung phong hiến đất của nhà mình. Tiếp theo là gia đình ông thông gia, rồi các gia đình liên quan đều phấn khởi tự giác hiến đất. Chính vì thế mà con đường dài hàng km, qua 4 tổ dân phố 7,8,9,10 của phường Đồng Tiến nhanh chóng được mở rộng, nâng cấp mà nhân dân không đòi hỏi một đồng tiền đền bù nào.
Bây giờ xin quay lại những khó khăn mà gia đình ông Thám đã vượt qua. Việc vợ ông dính vào đề đóm thì được giải quyết ngay từ năm 1991. Nhưng còn chàng rể mắc vào ma túy thì không thể một sớm, một chiều mà thoát ra được. Năm 1991, sau đám cưới tổ chức ở trên phường, ông Thám xin cho con rể đi cai nghiện 6 tháng. Sau đó, ông đưa 2 vợ chồng anh con rể vào một khu vườn rừng. Với số tiền lương hưu và phụ cấp Chủ tịch phường, ông điều tiết mọi chi tiêu trong gia đình, trong đó ưu tiên cưu mang vợ chồng chàng rể đang quyết tâm cai nghiện. Ông chu cấp toàn bộ bằng hiện vật chứ không cho một đồng tiền mặt nào.
Hàng ngày con rể ông trồng rừng và đào hào ngăn trâu bò vào phá hoại cây trồng. Sau hai năm quản lý chặt chẽ bằng tình thương, bằng lao động, con rể ông đã từ bỏ ma túy. Nay, các con ông đã có nhà xây, có xe ôtô hàng trăm triệu đồng. Thời gian con rể ông từ bỏ ma túy tính bằng tuổi đứa cháu ngoại năm nay đã ngoài 20 tuổi.
Để kết bài viết này, tôi lại muốn đưa ra một băn khoăn. Sự rõ ràng, minh bạch của ông Thám đã làm nên uy tín và tin yêu của người dân đối với ông và cũng là đối với Đảng, chính quyền. Ngược lại, có một việc có thể coi là lớn của chính quyền hiện tại đối với ông thì mãi không dứt điểm, không rõ ràng. Ấy là chế độ cấp đất ở cho thương binh, đối với ông.
Theo tôi được biết, người có công đối với cách mạng ở thị xã Hòa Bình trước đây, TP. Hòa Bình hiện nay, trong đó các thương binh đều được cấp đất ở. Riêng ông Thám là thương binh nặng, mất 71% sức khỏe thì lại đang chơi vơi. Những năm ông làm Chủ tịch UBND phường Đồng Tiến, cùng với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, ông cắm đất cho biết bao nhiêu hộ, cán bộ có, nhân dân có. Nhưng ông bàn trong lãnh đạo là trong Thường trực Đảng ủy và Ủy ban, không ai dính dáng đến chuyện đất cát. Việc này, thời ấy thực hiện nghiêm chả nhẽ lại là nguyên nhân dẫ đến cái sự chơi vơi về tiêu chuẩn cắm đất cho thương binh đối với ông.
Lại quay trở lại câu chuyện về ông Thám cai nghiện cho con rể. Sau hai năm ở trong rừng, con rể ông đã quyết tâm bỏ ma túy. Ông tính cách đưa vợ chồng chúng nó xuống núi để con cái học hành. Để tiện việc làm ăn và trông nom khu rừng trồng, ông kiếm cho các con ông một miếng đất rìa mương gần Công an phường Chăm Mát bây giờ. Người đến ở đông dần, nay đã thành khu dân cư với một dãy nhà xây. Trong đó có cả cán bộ, công chức nhà tiểu thương. Khốn nỗi, gần 20 năm nay, những gia đình ở đây vẫn chưa làm được thủ tục để hợp pháp đất ở. Thế là ông Thám mang tiếng là đã có đất và chờ làm thủ tục. Ông tâm sự: Tôi năm nay cũng đã gần 70 tuổi rồi, sống, chết không biết lúc nào đối với một anh thương binh nặng. Tôi chỉ muốn có thủ tục chỗ đất ấy cho các con.
Tôi nghĩ và đề xuất một phương án: Chỗ đất ấy đang nằm trong khó khăn chung của vài ba chục hộ. Thế sao bác không đề nghị, khi nào giải quyết được thì con bác đóng góp như tất cả các hộ khác đang ở đó theo quy định, chính sách hiện hành. Còn bác, bác đề nghị UBND TP. Hòa Bình cấp một miếng đất khác cho bác theo tiêu chuẩn như những thương binh khác có hơn không? Bác Thám thở dài: “Nếu được thế thì tốt quá”.
Ước gì, các cấp có thẩm quyền ở TP. Hòa Bình quan tâm đến thương binh nặng Vũ Minh Thám như những người dân tổ 24 – phường Đồng Tiến nhớ ông