Tuổi trẻ nhiệt huyết và đáng nhớ
Đến bến đò Bún Thia, tại thành phố Hòa Bình, không mấy khó khăn để hỏi thăm ngôi nhà có con người đang sở hữu những câu chuyện diệu kì. Con đường đất nhỏ đi men theo những mảnh ruộng, những bụi tre hiền lành dẫn chúng tôi đến ngôi nhà cấp bốn nằm bên sườn đồi. Tạm thoát khỏi ồn ào, bụi bặm của phố thị, chúng tôi được tắm mình trong không gian yên tĩnh, trong lành. Tiếp chúng tôi là một bà cụ mái tóc bạc phơ, gương mặt đầy những vết đồi mồi nhưng ánh mắt, giọng nói, dáng đi còn tinh anh, ấm áp và nhanh nhẹn.
Bà lão ấy là cụ Nguyễn Thị Khoa, sinh năm 1931. Bà lão gầy gầy, xương xương hôm nay ngày ấy là em thiếu niên hồ hởi tham gia kháng chiến ngay từ những ngày đầu khi xưa. Giờ bà đã là bậc cán bộ lão thành cách mạng đã từng phụ trách Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Hoà Bình, là con người đã dành trọn cuộc đời của mình tham gia các hoạt động xã hội. “Pho sách sống” ấy đã giúp chúng tôi nhìn nhận lại mình.
Cụ Nguyễn Thị Khoa tham gia đoàn thể phụ nữ cứu quốc năm 1945. Khi ấy, cụ mới mười bốn tuổi, còn ở độ tuổi thiếu niên.Vậy mà học trò của tôi ngày hôm nay cũng vào tuổi ấy, chúng vẫn đang được bố mẹ thúc ép, nịnh nọt đến trường. Chúng tôi ngồi nghe giọng kể ấm áp của cụ về những năm tháng rất đỗi vẻ vang với tâm trạng vừa háo hức, vừa pha chút hổ thẹn.
Mười ba tuổi, cụ đã tham gia tổ chức đoàn thể cứu quốc. Vậy mà hai mươi tuổi, chúng tôi vẫn là “những đứa trẻ to xác”. Giả sử có làm được chút việc cỏn con gì cho bản thân, cho gia đình, cho những người xung quanh mình thì chúng tôi đã tưởng nó to tát, vĩ đại lắm. Ở trước “bóng cả” có tháng năm tuổi trẻ sôi động, tôi thấm thía sự nhỏ bé của cá nhân.
Năm 1962, cụ được bầu là Đại biểu Quốc hội khoá II. Trong chặng đường hoạt động cách mạng của mình, cụ được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương cao quý (Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Nhất, Kỉ niệm chương vì sự nghiệp dân vận…). Những tấm huân chương của một cá nhân so với chiến công vang dội của quân và dân cả nước không có gì đáng kể. Thậm chí, với thế hệ được thừa hưởng tự do và thanh bình mà cha anh đã mang lại mà bản thân không hề trải nghiệm thì thật khó lòng hình dung hết những gian khổ, hi sinh đằng sau những tấm huân, huy chương ấy.
Bắt đầu tham gia kháng chiến khi còn ở độ tuổi niên thiếu, rồi khi tham gia hoạt động phụ nữ thời chiến thì người phụ nữ ấy vừa sinh đứa con đầu lòng. Để đứa con khát sữa ở nhà, người mẹ trẻ tham gia công tác dân vận, tham gia công tác đoàn thể cùng sự thương con và nỗi đau cương, tức sữa. Người mẹ trẻ hiểu hơn ai hết những gì mình làm hôm nay đều là vì con mình, vì thế hệ trẻ ngày mai. Vừa là một cán bộ phụ nữ tận tụy với công việc, vừa là người vợ, người mẹ đảm đang trong gia đình có bốn người con.
Năm 2008, cụ vinh dự được nhận huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Trong kí ức của người cán bộ lão thành ấy thì đáng tự hào nhất, xúc động nhất không phải là những tấm huân chương mà là những lần được gặp Bác Hồ. Và trong những lần gặp ấy thì hai lần được ở thật gần Người.
Lần thứ nhất là vào năm 1964, khi bà tham dự hội nghị phụ nữ miền núi toàn miền Bắc. Khi ấy, bà ngồi cùng hàng ghế chủ tịch đoàn, được ngồi ngay cạnh Bác Hồ. Bà cùng các cán bộ có mặt tại hội nghị được nghe Bác dặn dò công việc làm cách mạng. Bao nhiêu năm trôi qua mà từng lời dặn của Người vẫn văng vẳng bên tai. “Cán bộ phụ nữ là phải chịu khó, phải đi sâu, đi sát chị em, lãnh đạo phong trào phụ nữ các dân tộc chuẩn bị cho kháng chiến…”. Người cán bộ lão thành cách mạng chỉ cho chúng tôi xem bức ảnh chụp năm 1964 được treo trang trọng trên tường trong nỗi niềm xúc động.
- Và các con biết không, đáng quý nhất, vinh dự nhất trong cuộc đời bà là được gặp Người vào những giờ phút cuối!
Không gian như ngưng đọng lại. Người cán bộ lão thành nhìn sâu vào trong mắt chúng tôi, ánh mắt ấy truyền dội về nỗi niềm của hết thảy trái tim đồng bào các dân tộc Việt Nam trong khoảnh khắc đau thương của năm 1969. Nén nỗi xúc động, bà cụ đi lại phía bàn thờ gia tiên, lấy xuống chiếc cặp đựng tư liệu. Cụ lần lượt giở từng tấm ảnh. Có lẽ, con người ấy vào khoảnh khắc này đã nhớ đến lời dặn của vị Cha già trước lúc đi xa rằng: Phải biến đau thương thành hành động...
Cụ dừng lại thật lâu trước tấm ảnh chụp đoàn đại biểu phụ nữ Việt Nam vinh dự được sang thăm nước bạn Xô Viết.Trong chuyến đi ấy, cụ đã được vào Lăng viếng Lê-nin. Với thế hệ đã chọn lí tưởng cách mạng làm lẽ sống của đời mình thì chuyến đi ấy thực sự là một vinh dự. Tấm ảnh đen trắng đã ngả màu theo thời gian. Nhưng dòng nhiệt huyết của lí tưởng cách mạng còn toả rạng, còn chưa bao giờ phôi phai đi. Trước chúng tôi, người cán bộ lão thành, bà cụ có mái tóc bạc phơ vừa rất thực, lại cũng vừa như bước ra từ những trang sử hào hùng.
Trang đời ý nghĩa khi nghỉ hưu
Khi đã được nhận sổ hưu vào năm 1985, cụ Khoa vẫn tiếp tục tham gia công tác dân phố. Về hưu, cụ được bà con xóm Bún, xã Yên Mông tín nhiệm bầu vào tổ hoà giải. Công việc thôn xóm không chỉ đòi hỏi nhiệt tình mà còn đòi hỏi sự thấu tình, đạt lí. Làng xóm chung sống nghĩa tình nhưng không phải không có những va chạm. Chuyện cãi vã nhau, chuyện tranh chấp lặt vặt giữa những người cùng xóm còn dễ giải quyết. Nhưng còn những chuyện nhạy cảm, những chuyện éo le khác nảy sinh từ cuộc sống thì khác.
Như chuyện em vợ có thai lén lút với anh rể chẳng hạn. Dư luận xã hội rõ ràng không thể nào đồng ý với người em lầm lỡ mang thai với anh rể mà không nghĩ đến hạnh phúc của chị gái mình kia. Nhưng xét ở góc độ một người phụ nữ, người đàn bà khao khát tình mẫu tử lại khác…Tình và lí rõ ràng là thế nhưng không biết phải hoà giải cách nào đây? Vì hai người phụ nữ kia đều là người trong một gia đình, chuyện cũng lại chẳng hay ho gì. Mình lại là người ngoài, biết can thiệp thế nào cho ổn thoả đây?
Vốn đã có thời gian với cương vị của một thẩm phán, lại là cán bộ phụ nữ lâu năm, cụ Khoa hiểu những suy nghĩ, tình cảm của một người phụ nữ. Đứa trẻ trong bụng người em kia không làm nên tội tình gì. Làm sao đang tâm mà phá bỏ sự sống ấy và cướp đi mong ước chính đáng của một bà mẹ? Và nhờ sự khuyên nhủ hợp tình, hợp lí của cụ Khoa, mối thâm tình máu mủ của hai chị em kể trên không những không bị sứt mẻ đi mà còn có kết quả tốt đẹp. Đứa bé được sinh ra từ lầm lỡ trong câu chuyện ngày xưa ấy giờ đã khôn lớn, đã sắp lập gia đình riêng. Cả chuyện phức tạp ở nhà nọ, vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc nữa, cũng nhờ sự khuyên nhủ thấu tình, đạt lí của cụ mà cũng ổn thoả…
Với cụ Khoa, đó là những câu chuyện buồn, không nên nhắc lại. Nhưng về hưu rồi mà vẫn còn làm được công việc ấy nghĩa là cụ vẫn còn thấy mình có ích. Nụ cười phúc hậu của cụ khiến chúng tôi như được hưởng lây niềm vui giản dị mà rất ý nghĩa. Hai năm nay, do tuổi cao, điều kiện sức khoẻ không cho phép cụ tham gia vào công việc lối xóm nữa, nhưng thời giờ rảnh rỗi cụ vẫn đọc sách báo, tạp chí phụ nữ… Không hề mong hàng xóm sẽ có những chuyện không vui, nhưng biết đâu nhờ thông tin hỗ trợ từ sách báo mà cụ vẫn còn giúp được điều gì đó cho những người xung quanh mình?
Tám mươi năm đã qua trong một đời người. Những con người như Ngoại, như cụ Khoa đã viết thành trang sử hào hùng của dân tộc. Gặp cụ, chúng tôi càng biết, càng hiểu thêm cha anh ta đã sống hết sức ý nghĩa như thế nào?
Lịch sử ghi danh và biết ơn những con người có cống hiến cho Tổ quốc, cho đất nước, cho dân tộc Việt. Có biết bao tấm gương anh hùng trên mặt trận cứu quốc, mặt trận xây dựng và phát triển kinh tế. Mỗi cá nhân đã góp phần tạo dựng nên Đất nước