Một buổi chiều, sau 10 năm, tôi lang thang qua bến gốm ven sông Hồng. Cuộc sống của những con người nơi đây vẫn còn ngổn ngang gánh nặng mưu sinh.
Phận nổi nênh
Xóm thuyền sứ trú ngụ ở một góc khuất của sông Hồng, thuộc phường Tứ Liên, quận Ba Đình, Hà Nội. Khi tôi hào hứng xách máy ảnh đến xóm thuyền sứ này, trong tưởng tượng của tôi về một bến sông tấp nập kẻ bán, người mua. Những ghe thuyền chất đầy gốm sứ, rong ruổi dọc bến sông.
Nhưng tôi đã bắt gặp một khúc trầm buồn, nếu không nói là thê lương khi mà ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội, cuộc sống mưu sinh còn quá nhọc nhằn.
Sông Hồng mùa cạn nước. Những con thuyền mắc cạn. Những mảnh đời mắc cạn. Ngổn ngang và xơ xác. Những con thuyền trở thành nhà, che nắng che mưa cho dân thuyền sứ. Thuyền nối thuyền, chất thành một dãy dài dọc bến sông. Thuyền lớn, thuyền nhỏ. Thuyền có phận của thuyền. Người có phận của người. Và trong cuộc nổi trôi của số phận, thuyền và người đã gặp nhau, neo đậu về đây, làm nên cái gọi là làng thuyền sứ.
Từ 5h sáng, những gánh hàng sứ đủ màu sắc, kích cỡ chất đầy trên những chiếc xe máy, xe đạp, rong ruổi đi vào những ngõ ngách phố Hà Nội. Người tằn tiện, ki cóp sắm được chiếc xe máy, kẻ nghèo khó vẫn xe đạp cà tàng. Thế mà, gốm, chai lọ, ấm chè vẫn được chất đầy một cách khéo léo. Mải miết lao vào cuộc mưu sinh. "Tiền thuê đất một năm đắt bằng tiền mua cả chiếc thuyền. Chúng tôi quen sống cảnh sông nước. Có cái thuyền là hạnh phúc rồi". Người dân thuyền sứ lý giải cho việc định cư trên thuyền của họ.
Làng thuyền sứ xưa, có gần 200 chiếc thuyền, tấp nập kẻ bán người mua. Lúc dạt về Phú Thượng, lúc ở cầu Long Biên. Nổi trôi theo mùa con nước. Hơn 4 năm nay, họ định cư tại Tứ Liên, Ba Đình. Dân thuyền sứ, dĩ nhiên không phải người Hà Nội. Họ đều thuộc Đức Bác, Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
Vùng đất khắc nghiệt. Mùa khô, nắng cháy da cháy thịt. Cỏ cây thiêu rụi. Mùa mưa, nước ngập trắng đồng. Đói trơ cả gốc rạ. Thế nên, dân bỏ làng đi buôn. Xưa đi buôn cối đá. Cũng xuôi dòng xuống Bát Tràng, lấy những chiếc cối đúc bằng xi- măng mang đi bán tứ xứ để đổi lấy bát gạo, củ khoai qua ngày. Bát Tràng bỏ nghề đúc cối. Người dân sông Thao cũng bỏ nghề buôn cối đá, chuyển sang bán gốm. Xưa thuyền chèo bằng tay, xuôi sông Thao, dọc sông Hồng, đổ về các làng gốm, từ Bát Tràng, về Phù Lãng... Thuyền bé nhỏ chòng chành. Mưa gió lại về trú ngụ ở đây. Giờ thay bằng thuyền to. Nhưng nước sông Hồng cạn, thuyền trở thành nhà. Vận chuyển đồ sứ thay bằng ôtô, xe máy. Nay, nhiều người thoát khỏi cảnh nghèo, vào
Chiều xuống, những chuyến xe đã vơi hàng từ khắp ngõ ngách Hà Nội đang trở về. Anh Thịnh, một công dân lâu đời của xóm, vừa rửa vội cái chân lấm lem bụi đất, vừa trò chuyện cùng chúng tôi. Thịnh là một tay khá lão luyện trong nghề gốm, có thâm niên 4 đời. Nhà Thịnh đi buôn gốm từ cái thuở xa xưa, dễ chừng đã 25 năm. Các thế hệ cứ nối tiếp nhau. Ký ức của anh không có gì ngoài hai chữ nghèo và đói. Thịnh học đến lớp 8, đi buôn gốm cũng vì đói. Nhà 7 anh em.
Chẳng ai được học hành, cứ đến lớp 7, lớp 8 là bỏ học, lên thuyền, cắm mặt ở bến sông này. Vợ Thịnh người cùng làng. Đi miết theo chồng. Dăm bữa, nửa tháng về thăm các con. Cả ngày rong ruổi, lê la khắp cũng chỉ kiếm được 100 ngàn. "Còn hơn việc đi xách vữa, hay làm phụ hồ", Thịnh nói.
Hai con Thịnh gửi cho ông bà nội. "Tôi quyết tâm lặn lội để cho các con được học hành. Kiên quyết, đến đời các con tôi không nối tiếp nghề gia truyền này nữa, cực lắm, khổ lắm. Không có chữ thì cả đời không ngẩng đầu lên được. Tôi trót vay ngân hàng tới cả trăm triệu đồng rồi, giờ lo cày mà trả nợ". Ông Đỗ Văn Khánh là cư dân già nhất xóm thuyền sứ ngồi rít thuốc lào. Mắt xa xăm hồi tưởng lại hành trình đi bán gốm của mình. "Đời thuyền sứ vất vả lắm cô ơi, tôi 50 tuổi rồi, lưng đã mỏi, gối đã chồn rồi mà vẫn phải gồng gánh nuôi gia đình". 18 tuổi, ông Khánh đi bộ đội, vào sinh ra tử trong trận chiến Biên giới Tây Quen đến nỗi, nhiều khi lên bờ cứ thấy mình ngơ ngác. Đời lênh đênh thế. Nhưng giờ già rồi, về neo ở bến này thôi". Hai con trai ông Khánh cũng theo nghề của bố. Đứa lớn đi vào tận miền
Bao giờ được lên bờ?
Ông Xuân vừa nói vừa chăm chú cắt tỉa cho khóm cây cảnh ông cùng hàng xóm làm thêm vào những ngày rảnh rỗi. Ông Xuân có thâm niên 22 năm ở bến sông này, chứng kiến những đổi thay của xóm làng. "Đời tôi cực lắm mới tha phương đi kiếm sống thế này. Không học hành không còn nghề ngỗng gì. Đời sông nước, lúc nổi, lúc chìm, biết đời nào mới được lên bờ"...
Vợ chồng ông Xuân năm nay đã gần 60. Con cái bỏ đi làm ăn xa. Hai vợ chồng rau cháo nuôi nhau. Ông Xuân buồn xa xăm. "Các con tôi biết nghề sứ nghèo, bỏ vào Xóm thuyền sứ có nhiều phụ nữ phải chèo chống gia đình. Họ ở đây một mình, xoay xở mưu sinh. Chị Thoa đang loay hoay với chiếc xe cà tàng bỗng dưng dở chứng nổ lốp. Gương mặt thất thểu nhờ anh hành xóm sửa xe. Mắt chị chực khóc khi tôi hỏi chuyện. Tôi không hình dung nổi sao chị có thể gồng gánh từng ấy chai lọ, ấm chén trên chiếc xe ọp ẹp này. Thế mà thành quen. 5h sáng, chị đạp xe vào tận Ngã Tư Sở, Thanh Xuân. "Hai con tôi còn bé, đứa lớn mới 3 tuổi, đứa bé chưa đầy năm. Chồng tôi phải ở nhà trông con và nuôi lợn. Một mình xuống đây buôn bán, ở nhờ thuyền của một bà chị con bác". "Sao chị không cố mua lấy cái xe đạp tử tế hơn mà chở hàng?". ''Tôi làm gì có tiền hả cô, được đồng nào, chả đủ gửi về nuôi các con. Như ngày hôm nay, không kiếm nổi 100 ngàn, chả biết con tôi lấy gì mà ăn đây"...
Chị Hòa không phải quê Vĩnh Phúc, làng chị không có truyền thống đi thuyền sứ. Nhưng lấy chồng về sông Lô, từ bỏ cuộc sống lam lũ trên bờ mà chuyển xuống sông. Vừa tất tưởi đi chợ về, tay cầm mấy mớ rau héo, chị vừa kể: "Tôi lúc đầu chả hình dung cái nghề lênh đênh như thế này đâu.
Hồi đầu ngủ trên thuyền không quen, tôi còn bị say sóng. Nhưng lấy chồng phải theo nhà chồng. Không chỉ tôi mà tất cả những phụ nữ làm dâu làng này đều đi theo chồng buôn sứ". Chồng đau yếu, hai con còn nhỏ, chị gửi lại cho ông bà nội rồi tất tả ngược xuôi. Giọng chị Hòa buồn. Nỗi buồn tha hương...
Bao giờ được lên bờ? Có lẽ câu hỏi đó vẫn còn đeo đẳng mãi trong cuộc sống của người dân thuyền sứ.
| Trung tá Nguyễn Việt Phương, Cảnh sát khu vực phường Tứ Liên, quận Ba Đình Khi tôi về đây, từ năm 1995 đã có xóm thuyền sứ này rồi. Xưa đông lắm. Họ là những người nông dân hiền lành chất phác, chỉ biết buôn bán kiếm kế sinh nhai. Họ đều có đăng ký tạm trú ở phường Tứ Liên. Tất cả họ đều chấp hành tốt pháp luật. Nhưng đúng là đời sống cơ cực. Nhất là những ngày mùa đông, đúng vào mùa kiếm cơm của họ, lạnh buốt thấu xương. Thế mà họ cũng phải bám trụ ở bãi sông này để mưu sinh. Tiền thuê đất ở đây cũng khá cao, mất cả chục triệu một năm, nên họ đành chấp nhận sống tạm bợ trên thuyền. Ở ngay giữa lòng thủ đô, vẫn có những đời sống cơ cực như vậy chứ nói đâu xa. |