Dòng chảy ký ức...
Tuổi thơ tôi đã gắn với những chuyến tàu điện xưa cũ màu thời gian và lam lũ như chính cuộc sống của một thời Hà Nội gian khó. Tàu điện ngày ấy dường như là phương tiện giao thông công cộng hữu hiệu nhất của Hà Nội với nhịp sống chậm chạp, lặng lẽ. Nhà tôi ở tập thể B11 Thanh Xuân Bắc (nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội) nên với lũ trẻ chúng tôi, đứa học ở Hà Đông, đứa học ở Ngã Tư Sở, Đống Đa, thậm chí tận khu Ba Đình thì đi xe điện vừa là một thú vui, vừa đỡ phải cuốc bộ, lại… không mất tiền. Hồi ấy, đâu phải nhà nào cũng sắm được chiếc xe đạp cho con đi học.
Hằng sớm tinh mơ, lũ trẻ chúng tôi co ro trong những tấm áo mỏng hồi hộp đợi ánh đèn pha của chiếc tàu điện cũ kĩ. Xa xa, dấu hiệu dễ nhận thấy nhất trước khi tàu xuất hiện chính là những tia lửa điện xanh lè tóe ra giữa bánh xe cần vẹt dẫn điện tiếp xúc với đường dây điện chạy trên nóc tàu. Mỗi khi đến chỗ đông người hoặc đường giao cắt, bác lái tàu nhấn chân xuống chiếc nút chuông bên dưới hộp máy, từng hồi, từng hồi leng keng vang lên, thật rộn ràng, quen thuộc đến thân thương. Tiếng bánh tàu bươn bả miết trên mặt đường ray kèn kẹt, tiếng gió lùa qua toa tàu ù ù. Cả con tàu (thường gồm 1 đầu kéo và 1 hoặc 2 toa) lắc lư, nghiêng ngả tiến về phía trước...
Thoắt một cái, chúng tôi đã tót lên tàu. Nhảy tàu điện là cả một nghệ thuật bởi nếu không, dễ què tay, mất chân như chơi. Lên được tàu, chúng tôi thường chọn chỗ nào gần cửa để ngồi, hoặc đứng ngay trên bậc lên xuống, bấu vào tay nắm cửa toa, để nếu xin đi nhờ được thì đi, không thì a lê hấp, nhảy bổ xuống chờ chuyến tàu sau… Cũng có hôm trời rét mưa rả rích, gặp bác soát vé dễ tính, chúng tôi đánh liều trốn học và cứ ngồi trên tàu đi hết Hà Đông lại vòng lên Bờ Hồ rồi trở về Hà Đông vài bận cho đến hết buổi học mới về nhà…
Việc điều khiển tàu điện, dưới con mắt trẻ thơ của chúng tôi, cũng khá đơn giản. Đáng chú ý nhất của "bộ đồ nghề lái tàu", chính là cây chìa khoá điện bằng đồng sáng choang và khá nặng, hình tay quay. Khi gạt cây chìa khóa, sẽ phân điện về mức phù hợp với vận tốc cần đạt được. Có hai loại chìa khóa AV và AR để tiến hoặc lùi. Mỗi khi phân điện, thì buồng máy lại phát ra những tiếng loẹt xoẹt và mùi khen khét của tia lửa điện.
Phanh là bộ phận hoàn toàn bằng cơ học với một bánh kim loại hình tròn để quay tay với những nan chắc khỏe, đường kính cỡ 40 cm. Khi cần phanh, bác tài quay bánh này (giống như bánh lái tàu thủy) để các má phanh ép sát vào các bánh sắt của tàu. Việc quay đầu tàu cũng rất đơn giản. Nếu đầu tàu kéo theo toa, bác tài sẽ dừng ở ga có đường ray tránh, rồi quay đầu cần vẹt và xách chiếc chìa khóa lại đầu kia của tàu, sau đó đi vòng đường tránh rồi quay lại nối với toa kéo.
Một bữa nọ, tôi vừa nhảy lên tàu điện đang chạy trên phố Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng, đoạn gần Ô Chợ Dừa), bác tài quay tay phanh két một cái khiến con tàu như bị dúm lại. Bác rút cây chìa khóa đồng to tướng (áng chừng nặng 3 kg) dứ vào đầu tôi rồi mắng: "Sư bố mày. Nhảy nhót gì mà liều thế. Tao chán ăn thịt người lắm rồi nhá. Sớm nay, một thằng cu mất cả hai chân vì nhảy tàu, ngay trước cổng Đại học Tổng hợp". Rồi bác hạ giọng: "Ngồi xuống ghế đằng kia. Cẩn thận kẻo có ngày mất chân đấy con ạ". Hỡi ôi, cái "thằng cu" mất cả hai chân ấy lại chính là anh Hùng cùng khu tập thể. Nhà tôi ở tầng 5, nhà anh ở tầng 3. Sớm hôm đó, anh nhảy tàu đi học và chẳng may trượt chân nên bị lọt vào gầm tàu…
Đó là cú sốc với gia đình anh, với cả đám trẻ con chúng tôi; đến độ mấy tuần liền sau đó, chúng tôi không dám bén mảng lên tàu điện. Thế nhưng, "nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò"; khi nỗi sợ qua đi, chúng tôi đâu lại vào đấy, tiếp tục nhảy tàu đi học, đi chơi. Phần anh Hùng, anh và gia đình rồi cũng nhanh vượt qua cú sốc kinh hoàng ấy. Anh vẫn học xong Đại học Tổng hợp Hà Nội và hiện giờ là một thầy giáo dạy Anh văn có tiếng ở khu Thanh Xuân Nam, dù anh chỉ dạy ở nhà.
Và chuyện về một người lái tàu điện năm xưa
Tàu điện có ở Hà Nội chính xác từ khi nào, tôi chưa có điều kiện tra cứu, nhưng chắc chắn nó là sản phẩm của cái anh thực dân sang xâm chiếm nước ta rồi quy hoạch, mở mang xây dựng Hà Nội với quy mô thời đó khoảng 500.000 ngàn dân (nhưng hiện đang phải gánh tới vài triệu người). Tàu điện chấm dứt hoạt động cách nay gần một phần tư thế kỷ, nhưng trong kí ức của tôi vẫn chưa thể nguôi ngoai nỗi nhớ tiếng leng keng cùng hình ảnh những con tàu chật như nêm lắc lư trên các tuyến phố. Cận ngày cuối năm Tây lịch 2011, bất chợt tôi được gặp một người lái tàu điện đã có hai đời theo cái nghề một thời rất có giá này ở Hà Nội.
Đưa bàn tay dày và rộng, chắc chắn ra bắt tay tôi, ông Nguyễn Hữu Lượng cười rổn rảng: "Bố tôi, anh trai tôi rồi đến tôi nữa, đều theo nghề lái tàu điện". Người đàn ông gần tuổi 60 này, hiện làm điều độ tuyến xe buýt số 32 của Hà Nội, thuộc Tổng Công ty Vận tải Hà Nội. Nhớ lại những căn duyên đến với nghề lái tàu điện, ông Lực kể:
Ông cụ thân sinh ra tôi là Nguyễn Văn Đắc. Cụ lái tàu điện từ thời Pháp thuộc. Từ nhỏ, tôi vẫn rất thích mỗi khi được cụ cho theo lên những chuyến tàu. Có lẽ, hồi đó tàu điện, xe kéo tay và sau đến xích lô là phương tiện vận tải chủ yếu của người phố thị… Anh trai tôi nối nghiệp cụ, rồi đi bộ đội. Còn tôi, học hết phổ thông thì tham gia lực lượng Thanh niên bảo đảm đường sắt trong những năm Hà Nội đánh Mỹ rất ác liệt, đây là lực lượng trực thuộc Tổng cục Đường sắt chứ không phải Thanh niên xung phong. Là người trai thời lửa đạn, chúng tôi đều rất hăng hái bắc cầu, sửa đường, tham gia nối lại nhịp cầu Long Biên bị B52 đánh sập…
Đến cuối năm 1972, ông cụ nhà tôi nghỉ hưu thì tôi chính thức bước vào nghề lái xe điện. Mới đầu, cũng chỉ được bán vé thôi. Sau thì vừa học, vừa làm. Ngày chúng tôi sát hạch, cũng là các anh giao cảnh (Cảnh sát giao thông - PV) ở 86 Lý Thường Kiệt (trụ sở Phòng Cảnh sát giao thông CATP Hà Nội hiện nay) đến kiểm tra, cấp bằng đấy…
Miền kí ức của ông Lượng miên man về những chuyến tàu Hà Nội thời bao cấp. Vé tàu từ 5 xu đến 1 hào tùy tuyến, như tuyến Bờ Hồ - Cầu Mới thì 5 xu; Bờ Hồ - Hà Đông thì 1 hào (lúc ấy 5 xu mua được một cây kem Tràng Tiền). Cả Xí nghiệp Xe điện có 30 đầu tàu và 50 toa. Các tuyến tàu điện đều đi về các cửa ô và vùng phụ cận: Cầu Giấy, Cầu Dền, Yên Phụ, Hà Đông nhưng cuối cùng thì các cửa ô đều nhắm đến Bờ Hồ. Tàu chạy không nhanh, hầu như liên tục quá tải. Mỗi toa chỉ có 54 chỗ người lớn ngồi ở hai hàng ghế, nhưng số người đứng thì thường gấp hai, ba lần. Có hôm, ông Lượng bán được 150 vé. Khách đứng ở bậc lên xuống, đứng ở chỗ nối đầu tàu với toa, đứng cả ở bệ bánh và bám tay lên cửa sổ… Nhưng được cái, bánh tàu bằng sắt nên chuyện quá tải chẳng hề hấn gì, phương tiện giao thông và con người lúc ấy cũng ít, hãn hữu mới xảy ra tai nạn.
Có hai ga chính là Cầu Mới và Thụy Khuê. Lái tàu có hai ca sáng và đêm. Ca sáng từ 5h sáng đến 12h trưa; ca đêm tiếp đó đến 22h. Hết giờ, phải đưa tàu vào ga rồi anh em lái tàu vào ngủ luôn ở trong nhà tập thể trong ga. "Nhưng có hôm tôi đang ngủ ở nhà tập thể ga Cầu Mới, tầm hơn 4h sáng chưa thấy mặt trời, đã có một đám choai choai vào gãi chân tôi, gọi: Chú Lượng ơi! Dậy đưa chúng cháu đi bắt nhái ở Thanh Xuân. Chiều lòng bọn nhóc, tôi đành cho tàu xuất bến sớm hơn" - ông Lượng nhớ lại. Ngày ấy, từ Cầu Mới có thể nhìn thẳng vào Hà Đông, vì đường sá vắng tanh và hai bên là những cánh đồng bát ngát, ông Lượng tiếc nuối nhắc lại cảnh cũ, chuyện xưa.
Trên những chuyến tàu ấy, ngoài chở khách còn chở rất nhiều hàng hóa: Chị hàng xôi, bà hàng bánh cuốn, bà hàng hoa quả... Ai cũng muốn mình giành được chỗ rộng, hàng hóa đỡ bị móp méo nên đều tranh thủ tình cảm của bác tài xế và anh soát vé. Mỗi khi được toại nguyện, lúc xuống tàu bao giờ họ cũng giúi cho bác tài vài quả cam, nắm xôi lạc và nhắn nhủ: "Lần sau, bác lại cho em chỗ rộng nhé". Đông vui nhất là chợ phiên Hà Đông và chợ Bưởi, khách lèn chặt như nêm. Có lúc, người soát vé cũng khó chen chân để thu tiền. Trên tàu điện là một xã hội thu nhỏ. Từ chị bác sĩ, công nhân, bà hàng xén, học sinh, sinh viên… và tất nhiên vẫn có cả những tên móc túi với đẳng cấp nhảy tàu ít ai bằng.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa. Cùng với sự phát triển của Hà Nội, cư dân thêm đông, nhiều ôtô, xe máy… dẫn tới tàu điện bị khai tử. Ông Lượng bùi ngùi: Khoảng những năm 1987-1990, tàu điện thu hẹp tuyến rồi hoàn toàn chấm dứt hoạt động. Đó cũng là những năm tháng đất nước chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế nên nhiều nhà máy, xí nghiệp hoạt động kém hiệu quả phải đóng cửa. Bữa ấy, tôi lái chuyến tàu điện cuối cùng tuyến Bờ Hồ - Hà Đông về ga, người bần thần lẫn lộn bao cảm xúc… Những chiếc tàu điện sau đó bị rã đồ, đường ray bị bóc lên để nấu thép bán lấy vốn đầu tư và đảm bảo đời sống công nhân. "Vậy chú còn giữ được cây chìa khóa đồng điều khiển số điện không?" Ông Lượng tiếc nuối trả lời: "Làm sao mà giữ được. Ngày ấy đói kém lắm. Mà cây chìa khóa nặng tới gần 3kg, là loại đồng rất tốt đấy".
Như đã nói ở phần trên, ông Lượng là người có căn duyên với nghề lái tàu điện và hiện giờ, ông là người lái tàu điện duy nhất còn đang làm việc trong nghề vận tải hành khách. Nhưng có lẽ, bạn đọc sẽ bất ngờ hơn bởi câu chuyện dưới đây. Trong số hành khách trên những chuyến tàu điện năm xưa của ông Lượng, có một cô gái suốt mấy tháng liền ngày nào cũng đi tàu. Cô ít nói và rất kín đáo, nên ông Lượng tỏ ra quý mến, hỏi thăm địa chỉ, nghề nghiệp. Hóa ra, nhà cô ở phố Đoàn Thị Điểm đối diện chợ Hà Đông. Cô đi học may gần Bờ Hồ.
Sau khi cô thành nghề, về mở hiệu may ở Hà Đông, tin qua thư lại, họ đã nên duyên vợ chồng. "Tôi có 3 cô con gái, đều ngoan ngoãn và học được. Mấy hôm nữa, vợ chồng tôi gả chồng cho cô lớn" - ông Lượng tấm tắc khen ba cô con gái rồi lấy cho chúng tôi xem những bức ảnh mới nhất của gia đình vừa chụp nhân chuẩn bị đám cưới…
Nhìn những khuôn mặt hạnh phúc rạng ngời trong gia đình người lái tàu năm xưa, chúng tôi chợt nhận ra một mùa xuân mới đang đến gần.