1. Ngồi nghiêng ngả theo những khúc cua, bạn đồng hành của tôi bảo, ngày xưa cứ mỗi khi nói lên Mù Cang Chải là nghĩ đến một xứ nào xa xôi, tận cùng lắm. Nghe cái tên cứ nghĩ lên ấy phải vén mù mà đi. Thế mà giờ đường đẹp, đôi chỗ quanh co nhưng trải nhựa, hai bên đường quang cảnh thanh bình, yên ả.
Vào những ngày đầu tháng 10 ở Mù Cang Chải có những ngày nắng vàng ruộm, không khí khô và thơm như những chiếc bánh ngô mới ra lò. Những ngày ấy, Mù Cang Chải giống như lễ hội. Khắp nơi người ta đổ về ngắm ruộng bậc thang, đôi chỗ còn xanh mởn, chỗ lại vàng ươm trông như con thác đổ từ trên đỉnh tràn xuống thung lũng óng lên dưới nắng. Phụ nữ ví hình ảnh ấy như lụa, như mật ong, tóm lại những thứ bổ béo, nhuận sắc, hoặc có thể vận lên người. Đàn ông thì bảo trông nó giống bia, thứ bia vàng óng chảy ra từ miệng chai, rồi sánh lên trào qua miệng cốc. Người nghệ sĩ thì vừa vuốt râu, vừa nheo mắt, ví nó tựa như một công trình điêu khắc trên núi. Bạn đồng hành của tôi thì ví lúa như “gái một con”…
Nhưng những người bà con dân tộc Mông ở đây thì khác. Cả cuộc đời họ đã lao động vất vả trên cánh đồng này. Khái niệm “đẹp” với họ là mùa vụ tươi tốt, thóc đầy bồ, ngô chất đầy gác, mưa thuận, gió hòa, lúa không bị sâu bệnh phá hoại để cứ vào những dịp thu hoạch, dù năm ấy mất mùa hay được mùa, nhà nào cũng an tâm tổ chức một lễ cúng giản dị ấy là lễ cúng cơm mới.
Lễ cúng cơm mới là phong tục của nhiều dân tộc ở nhiều vùng miền khác nhau, không chỉ của người Mông nơi đây. Một ngày tình cờ, chúng tôi được mời tham dự một lễ cúng cơm mới của gia đình ở Háng Tầu Dê, xã Chế Cu Nha, huyện Mù Cang Chải. Thông thường lễ cúng cơm mới không có quy định bắt buộc phải tổ chức vào buổi sáng hay chiều nhưng nay có khách, đường vào bản lại đi bộ mất vài km nên gia chủ tổ chức cúng vào bữa trưa để khách ăn bữa cơm, uống rượu say mà vẫn kịp ra khỏi bản trước khi trời tối.
Từ sáng sớm, những người phụ nữ trong gia đình đã dậy sớm chuẩn bị. Ở đây người ta vẫn dùng những chiếc cối đạp chân, được đặt trong gian nhà sau, cạnh lò rượu. Người phụ nữ trẻ - con dâu ông chủ nhà, địu đứa con trai 10 tháng tuổi trên lưng, một tay vịn cửa, một tay vòng ra sau vỗ vỗ vào mông con, chân đạp chày gỗ. Tiếng chày nện xuống cối đá từng hồi vang lên gian nhà trên, nơi khách đang ngồi chung quanh bếp lửa nghe trầm đục nhưng ấm áp, no đủ. Những ngày này, âm thanh ấy phát ra từ nhiều mái bếp khi sáng sớm, khi trưa vắng, khi chiều tà, lúc dồn dập khỏe khoắn, khi uể oải buồn buồn.
Chủ nhà này có 5 cô con dâu, cứ thay nhau lụi hụi trong bếp. Cô con dâu lớn vo gạo rồi đổ vào trong một chiếc chảo lớn đun nước sôi sùng sục. Sau khi gạo chuyển sang màu trắng đục, nước cạn bớt thì họ dùng chiếc muôi lớn, xúc gạo sang một cái chõ lớn bằng gỗ rồi bắc lên bếp đợi đến khi cơm chín thay vì nắp vung lại, đun nhỏ lửa như thông thường chúng ta vẫn làm.
Một cô con dâu khác, tôi không rõ thứ mấy, cầm dao ra vườn ngay trước cửa nhà, lúc sau mang về bó cải xanh tốt, rửa qua rồi cắt khúc bỏ vào nồi luộc. Tôi ngồi trên chiếc ghế gỗ quan sát những người phụ nữ ấy đi đi lại lại, làm làm lụng lụng trước mặt. Những chiếc váy xòe trông có vẻ nặng nề cứ đung đưa theo bước chân chắc nịch khỏe khoắn, những bước chân tựa hồ như đã quen với việc bám chặt, bám sâu lấy những thửa ruộng bậc thang bắc lên đỉnh núi vời vợi. Lạ cái là, tuy có vẻ như việc gì cũng đến tay nhưng khuôn mặt của họ không có vẻ gì giống như sự cam chịu. Ngược lại, đôi khi nó ánh lên cái nhìn uy lực, mạnh mẽ của một người làm chủ gia đình chứ không hề có tí gì nhẫn nhịn như những người đàn bà miền xuôi. Chẳng biết có đúng không hay tôi khéo tưởng tượng nữa.
2. Thế rồi, khoảng 8h sáng, những đống củi lớn được bê vào đặt cạnh bếp, một nồi nước sôi đang réo ùng ục. Một chiếc bàn được kê giữa nhà, bên trên trải lá chuối. Mấy người đàn ông trong gia đình nói gì đó với nhau rồi lục tục ra chuồng lợn. Họ tóm lấy một con đã chọn, trói chân nó lại và khênh vào nhà đặt lên chiếc bàn. Chúng tôi ngơ ngác hỏi, “tại sao lại giết lợn trong nhà?”. Ông chủ nhà giải thích, “theo phong tục, phải giết lợn trước trước sự chứng kiến của tổ tiên”. Ra vậy!
Trong lễ cúng cơm mới, con vật được mang cúng không nhất thiết là lợn mà có thể là gà cũng được nhưng phải diễn ra trong nhà, nơi làm lễ. Sau khi nghi thức đó kết thúc mới mang ra ngoài sơ chế. Thịt lợn được chế biến thành nhiều món khác nhau: luộc, xào, nấu canh. Những món này đều do đàn ông trong nhà đảm nhận.
Mâm cỗ cúng cơm mới đơn giản vậy, chỉ có thịt lợn và cơm nấu từ loại gạo vừa thu hoạch xong chứ không cầu kỳ, nhiều món như mâm cỗ miền xuôi và đương nhiên, không thể thiếu rượu. Tất cả, đều hoàn toàn do gia đình tự cung, tự cấp.
Lễ cúng diễn ra lúc khoảng 11 giờ hơn. Người cúng bắt buộc phải là người chủ cao nhất trong gia đình. Mâm cúng có một âu cơm lớn, người ta cắm những chiếc thìa quanh bát, lòng thìa quay vào bên trong, ý là để mời gia tiên về cùng ăn. Bên cạnh là một bát thịt lợn. Tuyệt nhiên không hương khói. Chung quanh mâm, những chiếc ghế gỗ được đặt ngay ngắn như để mời các cụ về ngồi.
Ông chủ nhà bắt đầu cúng. Một lúc sau, ông xúc cơm từ âu cơm lên ăn, rồi lại dùng một chiếc thìa khác xúc một ít cơm đổ ra bàn, cùng với thịt lợn và tiếp tục lầm rầm. Anh con trưởng của ông giải thích, đại ý bài cúng mời tổ tiên về ăn cơm để chứng giám cho lòng thành của ông mà ban sức khỏe và sự may mắn cho tất cả các thành viên trong gia đình…
Khi ấy khách khứa từ khắp nơi đã tề tựu, họ im lặng đứng chung quanh. Lễ cúng diễn ra không quá dài và giản dị nhưng dường như đầy trang trọng. Sau đó chiếu được trải, mâm được bày, rượu được rót. Phụ nữ có thể đứng dậy sau khi ăn cơm nhưng những người đàn ông thì sẵn sàng gục tại mâm cho đến giọt rượu cuối cùng. Ở vùng cao, mỗi khi người ta nâng chén đến mời bạn, rất khó để từ chối, mà từ chối được để người ta không phiền lòng lại là cả một nghệ thuật. Có rất nhiều lý do được đưa ra. Một chén rót ra, nâng lên là một lý do, chẳng lý do nào giống lý do nào. Nhiều khi cái sự trịnh trọng đến mức trang nghiêm của họ khiến ta cảm thấy không uống cạn là có lỗi lớn. Ta vẫn đinh ninh như thế cho đến khi say túy lúy.
Lễ cơm mới không phải là lễ được tổ chức cho tất cả mọi gia đình trong cùng một ngày. Phụ thuộc vào điều kiện và công việc từng gia đình mà mỗi nhà thu xếp tổ chức rải rác vào những ngày khác nhau. Trong suốt cả mùa gặt ấy, khách khứa hôm nay đi nhà này, mai qua nhà khác, nhộn nhịp như hội, tiếng cười nói rôm rả không ngớt. Vậy đấy, cái thi vị của mùa lúa chín với những người dân Mù Cang Chải là như vậy, là những bậc khi thấp khi cao của những đôi chân đã chuếnh choáng hơi men, và tiếng cười nói vui vẻ của những người phụ nữ trong những ngày có khách