Đi máy bay như sải cánh dài
Thế rồi tất cả những vẻ đẹp trời mây non nước đều phải nhường chỗ trước hết cho sự quan tâm của tôi về Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc - một nhà tù của Mỹ - ngụy lớn nhất miền
Những ngón đòn thâm hiểm, tàn ác như bẻ từng chiếc răng, đóng đinh khắp người, đục bánh chè, đốt bộ hạ, luộc người trong nước sôi của những dã thú đội lốt người đi liền với sự đấu tranh ngoan cường, hy sinh anh dũng của những người tù cách mạng được kẻ thù nghĩ ra và thực hiện tại nơi này.
Chỉ sau gần hai giờ từ sân bay Nội Bài – Hà Nội chúng tôi rưng rưng đặt chân mình lên đảo Phú Quốc. Trong phút giây bâng khuâng, tôi chợt nhớ tới câu thơ “Đi xe như bước chân dài” của ông Bùi Tứ - một người dân tộc Mường, Kim Bôi – Hòa Bình, và liên tưởng với câu thơ này thì đúng là “Đi máy bay như sải cánh dài” quả không sai.
Nắng vàng rực rỡ, trời mát dịu và gió thênh thang là cảm nhận về thiên nhiên đầu tiên mà tôi có được trên hòn đảo này. Tạm gác tất cả mọi kỳ thú, sau phút nghỉ ngơi tại khách sạn Cội Nguồn tại thị trấn Dương Đông, tôi thuê ngay một chiếc xe máy rồi tự mình tìm đến khu Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc. Rong ruổi xe máy giữa một nơi hoàn toàn xa lạ và trong một không gian khoáng đạt lúc rừng, lúc biển thật vô cùng thú vị và càng ngạc nhiên khi thấy người phương Tây đến đây rất đông. Họ cuốc bộ trong thị trấn, đi xe đạp, xe máy trên khắp các nẻo đường.
Thấy vậy bỗng chạnh lòng, người tận trời Tây mà ung dung có mặt tại Phú Quốc không khác gì người Phú Quốc. Trong khi mình là người Việt
Người đứng đầu danh sách liệt sỹ
Sau gần một giờ đồng hồ, tôi đến xã An Thới nơi cực
Tôi nghĩ, họ Bùi thì nhiều khả năng là người Mường Hòa Bình rồi, nhưng ngoài họ tên và địa danh Hòa Bình thì không tìm thấy địa chỉ xã, huyện của anh. Vào gian trong, tôi tìm thấy 2 liệt sỹ nữa là người Hòa Bình mà không có ảnh kèm. Đó là Lê Văn Việt, số tù 480 và Phạm Hữu Trang, số tù 791. Cũng như liệt sỹ Bùi V Cam, các anh Lê Văn Việt và Phạm Hữu Trang cũng không thấy ghi xã, huyện nào của tỉnh Hòa Bình.
Đến một nơi xa lạ mà gặp được một điều gì, một ai đó của quê hương, đồng hương thì thật mừng và quý giá. Hơn thế, tại nơi thiêng liêng này lại gặp ngay tên tuổi, hình ảnh những người con quê hương Hòa Bình từng bị giam cầm và hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc thì tình yêu thương, sự kính trọng càng trào dâng.
Chính thế, tôi tự hào với những người khách cùng tham quan mà giới thiệu với họ rằng: Liệt sỹ Bùi V Cam đây là người dân tộc Mường Hòa Bình quê tôi. Và từ giây khắc ấy, trong tôi đau đáu một điều, 3 liệt sỹ người Hòa Bình là người xã, huyện nào? Thân nhân các anh là ai? Phần mộ các anh nơi đâu?
Do đã tìm tài liệu về hòn đảo này và đặc biệt chú ý tới Khu di tích nhà tù với cai ngục tàn ác Trần Nhiếp Nhu thường gọi Bảy Nhu và biết ông ta còn sống, tôi quyết tâm tìm gặp để rõ mặt mày kẻ tàn ác. Đồng thời qua Bảy Nhu hy vọng có ít nhiều thông tin về các liệt sỹ người Hòa Bình mà tôi vừa nhìn thấy ảnh và tên các anh trong danh sách liệt sỹ hy sinh tại đây. Trời đã quá nửa buổi chiều.
Thấy sẽ không đủ thời gian xem hết các gian, các tầng của nhà lưu niệm và di tích khu giam giữ những người tù cách mạng làm tôi không khỏi bâng khuâng. Một chút nắng vàng óng ả báo hiệu thời khắc cuối ngày vừa như động viên vừa như thôi thúc, tôi quay trở lại nơi nhân viên trực khu di tích. Cầm trên tay cuốn “Trại giam tù binh Phú Quốc những trang sử đẫm máu 1967-1973” do Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành, vừa mở xem, tôi hỏi thăm chỗ ở của Bảy Nhu. Người nữ nhân viên trẻ trả lời: “Ông Nhu không gặp mặt người lạ đâu. Chú khỏi tìm gặp mà mất công”. Chút ái ngại thoáng đến. Rồi như có đấng siêu linh nhắc bảo, đã ra đến Phú Quốc mà không gặp tận mặt Bảy Nhu thì coi như chưa ra Phú Quốc. Không những thế, các liệt sỹ người Hòa Bình hy sinh tại đây, các anh là ai? Thân nhân các anh ở xã, huyện nào của Hòa Bình?... Hàng loạt câu hỏi tạo sức mạnh để tôi quyết tâm gặp mặt Bảy Nhu.
Ra đường lớn, tìm gặp người cao niên hỏi thăm, tôi men theo một con đường nhỏ lở lói sau mưa đi sâu vào cánh rừng thâm u, rờn rợn. Vừa quan sát hai bên vừa phải thật vững tay lái để bánh xe khỏi sa xuống những rãnh sâu trên đường. Tới một cánh cổng sắt đang mở, tôi dừng xe vào tìm người hỏi thăm và thật mừng khi gặp người phụ nữ cất giọng Bắc. Chị là người Hải Phòng vào đây đã gần 20 năm. Theo tay chị, nhà ông Bảy Nhu ở bên trong.
Gần tới cổng nhà Bảy Nhu, một đàn chó có đến gần chục con xông ra sủa inh ỏi. Chợt nhớ lời đồn giống chó ở Phú Quốc rất tinh khôn, tôi liền tắt máy xe, đứng im và lấy xe máy làm vật cản đàn chó. Một lát sau, cháu gái khoảng 9 tuổi từ vườn ra quát đàn chó. Không đợi cháu hỏi lý do, tôi lọt qua cánh cổng nhỏ vào sân rồi ập ngay vào căn nhà xây.
Từ gian trong, một ông già lục cục chậm chạp bước ra. Tôi nhận ra ngay ông ta chính là Trần Nhiếp Nhu – “Viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt
Sau khi nghe lời giới thiệu của tôi là người từ Hòa Bình vào và muốn hỏi về 3 liệt sỹ người Hòa Bình, ông Nhu đưa ra một cuốn sổ nhỏ bảo tôi ghi tên, địa chỉ 3 người cần tìm. Nói chuyện với tôi ông Nhu phân bua: Một thời tôi làm con chó săn cho người ta. Tôi làm nhiều điều ác. Không hiểu sao tôi sống được đến tuổi này. Mà có khi là tôi phải sống đến nay để trả nợ đời, để làm nhân chứng sống. Tôi cũng chẳng biết làm gì hơn là góp sức tìm hài cốt những người đã chết. Cả 12 khu tôi đi hết. Nhiều người từ
Kiểm chứng lời ông ta nói, tôi mở xem cuốn sổ nhỏ thì đúng là có nhiều tên người, địa chỉ, số điện thoại khắp nơi được ghi. Trước khi tôi ra về, ông Nhu đề nghị đưa cho ông ta 50 ngàn đồng để ông ta mua cái thẻ cào và hẹn sáng mai tôi quay lại.
Đêm hôm đó tôi không sao ngủ được. Gặp Bảy Nhu rồi mới hay diện mạo con người ta chưa nói lên điều gì về bản chất. Một ông già 87 tuổi tóc bạc da mồi, bước chân chậm chạp, giọng nói càng chậm và yếu như nhiều người già khác thế mà từng là một kẻ ác, đại ác.
Hình dung cuộc gặp lịch sử sau 37 năm nhà tù này chấm dứt hoạt động (1973), tháng 12 năm 2010, ông Vũ Minh Tằng đã từ Vĩnh Hào, Vụ Bản, Nam Định vượt cả ngàn kilômét trở lại đảo Phú Quốc đối mặt với cai ngục Trần Nhiếp Nhu - kẻ đã đục tươi 9 chiếc răng của ông là bằng chứng không thể chối cãi về tội ác tày trời của Bảy Nhu.
Trong 9 chiếc răng bị Bảy Nhu đục rồi bắt nuốt cả răng lẫn máu vào bụng, ông Tằng đã bí mật bới tìm trong phân của mình được 8 chiếc và lại bí mật cất giữ mang về quê. Chiếc còn lại do có chân nhọn lên mắc trong dạ dày của ông đến nay. Mấy năm gần đây khi các cựu tù binh Phú Quốc thành lập bảo tàng tại Phú Xuyên, ông Vũ Minh Tằng đã hiến tặng 8 chiếc răng bị đục bẻ của mình cho bảo tàng.
Trước khi rời quê hương Nam Định bay vào Phú Quốc gặp mặt Bảy Nhu, những người tổ chức cuộc đi đã gàn ông Tằng không nên mang theo 8 chiếc răng ấy mà cứ để chúng tại bảo tàng. Chỉ cần ông còn sống, bằng xương, bằng thịt là đủ rồi…
Xem các tài liệu và thông tin từ cuộc gặp, tôi hình dung một cuộc từ đối mặt đến gặp gỡ có một không hai khi cả hai bên kẻ tra tấn và người bị tra tấn đều không ngờ đối phương còn sống. Thượng sỹ nhất Bảy Nhu – kẻ tra tấn người thì đinh ninh với ngón đòn hiểm ác của mình và cơ thể gày gò chỉ còn khoảng 28kg ấy, ông Vũ Minh Tằng không thể sống đến nay.
Ngược lại, cựu tù Vũ Minh Tằng lại nghĩ kẻ ác độc như tên Nhu chắc chắn đã chết mục xương từ lâu. Lạ thay, họ đều còn sống và sống trên tuổi 80. Có lẽ lịch sử để cho họ sống, để họ có cuộc đối mặt sau hơn 40 năm cái ác độc xảy ra. Người sừng sững đỉnh núi, kẻ ngăn ngắt vực sâu. Rồi từ đỉnh núi, bàn tay từng bị kẹp tứa máu ấy đã chủ động giơ ra để kéo kẻ dưới vực sâu lên. Âm vực cất lên từ ông Vũ Minh Tằng đối thoại với Bảy Nhu là âm vực của người móm, móm vì chính Bảy Nhu chứ không ai khác đã đục trụi 9 chiếc răng của ông Tằng.
Ngồi tại Phú Quốc, ngay tại nơi hơn 40 năm trước mình bị tù đày và ngay chính trong căn nhà Bảy Nhu, lời của ông Tằng móm chắc hẳn không hề thều thào mà vô cùng đanh thép. Rồi từ đanh thép chuyển sang ấm áp bao dung. Hai ông già trên 80 mươi tuổi gặp lại nhau trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Rồi họ lại đã nắm tay nhau. Và nước mắt hai bên cùng chảy…
Từ đối mặt - đối chất đến gặp mặt - đối thoại là biểu tượng sinh động của truyền thống “mang đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” của dân tộc ta. Truyền thống cao đẹp được người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi tổng kết ấy tỏa sáng ở từng con người và trong từng việc làm cụ thể. Xóa bỏ hận thù để mở lòng, chung tay xây dựng quê hương, đất nước.
Hỡi những kẻ muốn gây ra cái ác, gây ra chiến tranh hãy biết đến và suy ngẫm giây khắc này của trần gian và địa ngục, của chân lý và lẽ phải mà dừng tay để đừng thêm một lần gây ra những mất mát, đau thương dù bất kể nơi nào trên trái đất này…
Hôm sau tôi đến, ông Nhu chủ động hỏi: “3 người ghi tên hôm qua quan hệ thế nào với anh?”. Tôi nói: Tôi không có quan hệ gia đình gì cả. Khi còn ở Bắc, tôi hoàn toàn không biết gì về các anh ấy. Vào công tác trong này, đến thăm Khu Di tích nhà tù Phú Quốc thấy tên các anh thì tìm hiểu rồi về Hòa Bình thông tin xem gia đình các anh là ai? Ông Nhu chậm rãi: Thực ra thì rất khó. Các anh ấy bị bắt đưa vào tù thì hầu như tất cả không khai thật tên, quê quán của mình.
Lý do vì các anh ấy tránh sự phức tạp. Dụ dỗ không được, tra tấn không xong, chúng tôi tìm cách tung hỏa mù là các anh ấy chiêu hồi. Tin này được tung ra, nếu đúng tên thật, quê quán thật, các anh ấy còn sợ hơn bị đánh đập, cùm khóa hay bắt nhịn rất nhiều. Thế nên xác định được tên tuổi thật khó lắm!
Sau khi bấm điện thoại của mình nói với người nào đó rồi đưa máy cho tôi. Đầu bên kia là ông Nguyễn Dương Kế - cựu tù binh tại Nhà tù Phú Quốc hiện đang ở quận 5, TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Dương Kế là một trong ba người tù bị Tòa án binh quân lực Việt
Khi nghe trình bày, ông Kế chia sẻ khó khăn về mục đích tìm hiểu của tôi. Trong những khó khăn ấy có lý do như Trần Văn Nhu giải thích. Tuy thế, ông Nguyễn Dương Kế cho tôi tên và số điện thoại của ông Trần Quốc Thắng cũng là cựu tù binh Nhà tù Phú Quốc hiện đang sống tại Hòa Bình để tôi tìm hiểu thêm.
Từ Phú Quốc về Hòa Bình, tôi tìm gặp ngay ông Trần Quốc Thắng và nghe ông hồ hởi: “Nhận giấy mời dự Lễ trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ tù binh Phú Quốc” tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đầu tháng 3/2013, tôi vô cùng xúc động và thao thức.
Đang ốm yếu, kinh tế lại eo hẹp nhưng bằng mọi giá, gia đình xúm vào để tôi thực hiện được chuyến đi vô cùng ý nghĩa này. Nếu không đi chuyến này thì rất có thể sẽ không còn cơ may để đến Phú Quốc lần thứ hai… Thật lạ, từ ngày tôi đi Phú Quốc về, thấy người khỏe ra…”.
Thật sững sờ và cảm ơn biết bao về những chuyến đi. Cùng sống tại thành phố Hòa Bình đã nhiều năm mà phải vượt hai ngàn cây số, rồi qua Bảy Nhu, qua ông Nguyễn Dương Kế để rồi tôi mới được biết về những con người ở ngay cạnh đã từng là cựu tù Phú Quốc.
Xác định được nhân than liệt sỹ Bùi Ngọc Cam
Cùng ông Trần Quốc Thắng, chúng tôi trao đổi với nhau về số bộ đội bị địch bắt đưa ra giam giữ tại Nhà tù Phú Quốc là người Hòa Bình. Trong 3 liệt sỹ có tên tại khu di tích, nhất là ảnh liệt sỹ Bùi V Cam, song ông Thắng không nhận ra ai. Ngay sau đó, tôi tìm kiếm tại Phòng Người có công của Sở LĐ,TB&XH cũng không thấy ai trong số tên cần tìm.
Khó khăn đến bao nhiêu thì vẫn còn hy vọng. Liệt sỹ Bùi V Cam còn ảnh tuy có hơi mờ. Tôi quyết định viết bài “Ba liệt sỹ người Hòa Bình hy sinh tại Nhà tù Phú Quốc” gửi in trên Báo tỉnh mong sao qua bài báo này, chúng ta được biết về các liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ. Giản dị vậy, nhưng thiết nghĩ, đó chính là sự trách nhiệm, là sự tri ân của thế hệ sau đối với những người con ưu tú đã hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc để chúng ta có được cuộc sống như ngày hôm nay.
Bài báo nêu trên ra ngày 03/11/2013 và tôi luôn mong đợi, hy vọng hồi âm tốt lành. Tuy nhiên đã gần một tháng trôi qua, tôi chưa nhận được thông tin gì từ thân nhân liệt sỹ, bạn đọc và nhất là từ Báo Hòa Bình. Thế rồi thật vô cùng bất ngờ và quá ngạc nhiên là sáng 29/11/2013 tại cuộc gặp mặt tại Báo Hòa Bình chuẩn bị cho số báo Hòa Bình số xuân 2014 do Ban Biên tập mời. Trong lời phát biểu đóng góp ý kiến của mình mong muốn Báo Hòa Bình hay hơn, đẹp hơn… Ông Bùi Ỉnh, nguyên Tổng Biên tập Báo Hòa Bình, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy có nhắc đến bài báo “Ba liệt sỹ người Hòa Bình hy sinh tại Nhà tù Phú Quốc” của
Một thông tin nóng như thế, trông chờ cả tháng trời như thế làm sao tôi ở yên cho được. Ngay sau đó, tôi tìm cách cáo từ bữa trưa do Báo Hòa Bình chiêu đãi. Vẫn biết như thế là khiếm nhã, nhưng nói thực tôi không lỡ lòng nào ngồi ăn trưa mà cứ thắc thỏm thông tin mà ông Ỉnh hé mở về liệt sỹ Bùi V Cam. Không cách gì hơn, tôi lục tìm số điện thoại của một cán bộ xã trong quê ông Ỉnh để hỏi về liệt sỹ Bùi V Cam. Và không đầy 10 phút sau, tôi nhận được hồi âm: Đúng là liệt sỹ Bùi V Cam, sinh năm 1948, ở xóm Rộc, xã Nật Sơn, huyện Kim Bôi, Hòa Bình. Người tôi run lên vì xúc động… Ngay sáng hôm sau, tôi có mặt tại gia đình liệt sỹ Bùi V Cam.
Tên đầy đủ của liệt sỹ là Bùi Ngọc Cam. Trong ảnh chụp lại thẻ tù binh in tại Bảo tàng Nhà tù Phú Quốc đọc được là Bùi V Cam. Thực ra thẻ viết tắt tên đệm N nhưng do bị mờ mất nét nên tưởng như là Bùi V Cam. Bùi Ngọc Cam, sinh năm 1948, tại xóm Rộc, xã Nật Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (Đúng là cùng xóm với ông Bùi Ỉnh, không những thế còn có họ hàng với ông Ỉnh nữa) có bố là Bùi Văn Đáo, mẹ là Bùi Thị Bôn đều đã mất.
Ông bà có 5 người con: Bùi Văn Việt sinh năm 1931 (đã mất), Bùi Ngọc Quyển sinh năm 1944, Bùi Xuân Thiển sinh năm 1946, Bùi Ngọc Cam sinh năm 1948 và Bùi Thị Cúc sinh năm 1952. Ba anh em Quyển, Thiển và
Tháng 9/1970 Bùi Ngọc Cam được kết nạp Đảng và là Thượng sỹ Tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 4, Quân khu 9. Tìm được thân nhân liệt sỹ Bùi Ngọc Cam tôi vô cùng cảm động và vui mừng. Tôi coi đây như phần thưởng quý báu trong cuộc đời làm văn, làm báo của mình.
Mặt khác bài báo thứ 2 của tôi với tiêu đề “Ước nguyện giản dị của một cựu tù binh Phú Quốc” viết về cựu tù Trần Quốc Thắng mong muốn tập hợp được anh em người Hòa Bình đã từng bị giam cầm tại Nhà tù Phú Quốc đăng trên Báo Hòa Bình ngày 10/11/2013, lập tức có hồi âm từ một số cựu tù binh Phú Quốc đang sống ở Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Thủy và TP Hòa Bình đã đến với ông Trần Quốc Thắng (cựu tù trong bài báo). Chắc chắn một ngày gần đây họ sẽ gặp mặt nhau để thành lập Ban Liên lạc cựu tù binh Phú Quốc tại Hòa Bình.
Cảm ơn cuộc đời đã cho tôi có được những chuyến đi vô cùng ý nghĩa, để tôi có cơ hội được tri ân dù chỉ là rất nhỏ công ơn to lớn của bà con, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình dành cho tôi trong suốt gần 40 năm qua