Mấy ngày đầu kỳ họp thứ hai, nhân bàn về bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước, nhiều đại biểu Quốc hội băn khoăn cái túi tiền lương người lao động chưa khi nào gỡ bỏ được chữ eo hẹp, giống như hàng hậu vệ đội bóng mệt mỏi đang bị các mũi nhọn lạm phát chọc thủng. Gần đây, lạm phát nhận được sự trợ giúp đắc lực của vàng với những cú bứt phá quá mạnh, càng làm "cầu môn lương" rơi vào thế chống đối vất vả. Hiện nay, hệ số thang bậc lương cao nhất là 13 (áp dụng cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước), còn lại hệ số thang, bảng lương công chức bình quân từ từ 3,0 đến 9,0.
Lương thấp, ai cũng muốn tăng lương, nhưng nguồn tiền này không gì khác được trích hoàn toàn từ ngân sách nhà nước. "Bánh ngân sách" có rộng mở thì lương mới tăng kích thước, đó lại là câu chuyện kinh tế vĩ mô.
7 lần tăng lương, lạm phát "kèm chặt"
Lộ trình tăng lương giai đoạn 2004 - 2012 đã gần kết thúc với 7 lần điều chỉnh lương tối thiểu (thực hiện theo các Quyết định 128-QĐ/TW năm 2004 và 275-QĐ/TW năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ). Theo đó, lương tối thiểu từ mức 210 nghìn đồng năm 2004, hiện đã tăng lên 830 nghìn đồng, gấp gần 4 lần. Trung bình mỗi năm điều chỉnh một lần, mỗi lần mức tăng trên dưới 15% (năm 2011 tăng 13,7%, từ 730 nghìn đồng lên 830 nghìn đồng).
Tuy nhiên, trong 7 lần điều chỉnh lương tối thiểu, chỉ số lạm phát cũng tăng khoảng 2,5 đến 3,0 lần. Đặc biệt, trong khoảng thời gian trên, có hai năm lạm phát hai con số, cao hơn nhiều mức tăng lương tối thiểu. Nếu như năm 2008, lương tối thiểu được điều chỉnh từ 450 nghìn đồng lên 540 nghìn đồng, tức tăng 20% thì lạm phát của năm lại lên tới 22,97%, cao nhất trong 10 năm qua. Tương tự, ngày 1/5/2011, lương tối thiểu tăng thêm 100 nghìn đồng (13,7%) nhưng chỉ số lạm phát 9 tháng đầu năm 2011 đã lên mức 18,16%. Chỉ một số năm lạm phát ở mức một con số như 2005, 2006, mức tăng lương tối thiểu mới có ý nghĩa cải thiện đời sống người hưởng lương.
Đời sống người hưởng lương chịu sự chi phối mạnh nhất trong nhóm hàng hóa lương thực, thực phẩm bởi hầu hết người hưởng lương đều không làm ra lương thực, thực phẩm. Trong khi đó, "rổ hàng hóa" để tính chỉ số tăng giá tiêu dùng với 572 mặt hàng thì mức tăng của nhóm lương thực, thực phẩm luôn cao nhất, còn những mặt hàng như điện tử, điện lạnh lại giảm mạnh, hàng may mặc có mức tăng trung bình.
Chẳng hạn, 1kg gạo năm 2003 khoảng 4-5 nghìn đồng thì hiện dao động mức 17-20 nghìn đồng, tức tăng khoảng 4 lần. Tính chung, giá lương thực, thực phẩm cũng đã tăng 3-4 lần so thời kỳ lương tối thiểu mức 210 nghìn đồng. Như vậy, mặc dù lương tăng gần 4 lần sau 7 đợt điều chỉnh nhưng về thực chất chỉ đủ bù trượt giá trong 8 năm qua. Riêng hai năm lạm phát cao hơn chỉ số tăng lương tối thiểu (năm 2008 và năm 2011) thì tăng lương không đủ bù đắp trượt giá, nhất là năm 2011, lạm phát hiện đã cao hơn 1,5 lần so mức tăng lương tối thiểu điều chỉnh từ 1/5/2011.
Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã tiến hành ba cuộc cải cách tiền lương nhưng thực tế tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức vẫn ở mức thấp. Nhiều chuyên gia tài chính cho rằng, mức lương hiện nay mới chỉ đáp ứng được 30-50% nhu cầu tối thiểu của gia đình công chức.
Một nghịch lý lâu nay vẫn tồn tại là: chi tiêu của sinh viên hằng tháng vẫn cao hơn nhiều so với mức lương của họ được nhận nếu vào làm ở cơ quan Nhà nước sau khi tốt nghiệp đại học. Chẳng hạn, nếu tính mức lương tối thiểu 830 nghìn đồng thì lương đi làm của sinh viên mới tốt nghiệp đại học chỉ khoảng 2 triệu đồng/tháng, trong khi chi phí cho một sinh viên học đại học hiện cũng đã 3-4 triệu đồng.
Sẽ đột phá?
Để việc tăng lương thực sự cải thiện đời sống người hưởng lương, chỉ có hai hướng lựa chọn: một là tiếp tục mức tăng lần lượt như đã thực hiện nhưng phải kiềm chế được lạm phát luôn ở mức một con số, đảm bảo chỉ số tăng lương tối thiểu hằng năm cao hơn 2-3 lần so chỉ số lạm phát. Thứ hai, phải có cải biến mạnh trong các lần tăng lương, hằng năm mức tăng không chỉ trên dưới 15% như đã thực hiện trong 3 đợt cải cách tiền lương vừa qua.
Vế thứ nhất, kéo giảm chỉ số lạm phát hằng năm ở mức một con số, thậm chí chỉ 5-6% như một số năm chúng ta đã đạt được. Giảm được lạm phát có tác động tích cực cả nền kinh tế chứ không riêng người hưởng lương. Tuy nhiên, điều này không phụ thuộc ý chí chủ quan của cơ quan quản lý nhà nước trong chính sách tiền lương bởi lạm phát chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong và ngoài nước với rất nhiều diễn biến khó lường. Nếu 2012 - 2015, lạm phát ở mức một con số thì chỉ số tăng lương như hiện hành cũng được cải thiện.
Vế thứ hai, cải biến mạnh trong các đợt điều chỉnh lương. Vế này phụ thuộc vào "bánh ngân sách" của Nhà nước.
Tiền lương hiện chiếm hơn 30% trong tổng chi ngân sách nhà nước và gần 60% tổng chi thường xuyên. Lâu nay, ngân sách nhà nước luôn bội chi, mỗi năm trên dưới 5%. Theo dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, mức chi là 725.600 tỷ đồng, chi thường xuyên là 442.100 tỷ đồng. Trong đó, chi thực hiện cải cách tiền lương là 27.000 tỷ đồng, chiếm 3,7% tổng chi ngân sách nhà nước (mức chi này dành cho khoản điều chỉnh tăng lương tối thiểu từ 1-5-2011, tăng 730.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng (tăng 13,7%), lương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công; thực hiện chế độ phụ cấp công vụ mức 10%; thực hiện phụ cấp thâm niên ngành giáo dục theo Nghị quyết của Quốc hội).
Theo tính toán, nếu lương tối thiểu tăng thêm 50 nghìn đồng thì mỗi năm, ngân sách nhà nước chi thêm khoảng 11 nghìn tỷ đồng. Như vậy, nếu năm 2012 mức tăng lương tối thiểu điều chỉnh từ 830 nghìn lên 1 triệu 50 nghìn thì ngân sách nhà nước chi thêm gần 50 nghìn tỷ đồng.
Một cách thực hiện khác, đó là điều chỉnh lại bộ máy cán bộ, công chức nhà nước. Cách làm này là: trong khi tổng tiền lương không đổi, nếu giảm số người được hưởng bằng cách tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả làm việc thì số tiền mỗi người được hưởng sẽ tăng lên. Vụ Tổ chức - Biên chế, Bộ Nội vụ cho biết, tính đến hết tháng 8/2011, theo kết quả thẩm tra thực hiện chính sách tinh giản biên chế (Nghị định 132 của Chính phủ năm 2007) thì tổng số đối tượng được giải quyết tinh giản biên chế trong 4 năm qua là 54.220 người.
Theo ông Dương Quang Tung, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, nói tiền lương của cán bộ, công chức thấp là nếu so với nhu cầu thiết yếu của cuộc sống nhưng lại không phải thấp nếu so với hiệu quả lao động thực tế của họ. Vì thực tế hiện nay, nhiều cán bộ, công chức làm việc cầm chừng, hiệu quả thấp, thời gian thực làm việc không nhiều.
Tuy nhiên, việc thực hiện tinh giản biên chế không đạt kết quả, số người được giảm lại ít hơn số người được bổ sung. Chính vì vậy, sau khi thực hiện tinh giản biên chế, bộ máy hành chính không những không giảm mà còn tăng lên đến 25%. Nếu năm 2000, tổng số biên chế công chức hành chính của cả nước mới hơn 200 nghìn người thì nay đã lên tới khoảng 260 nghìn người. Nguyên nhân tăng biên chế được giải thích là do phải bổ sung biên chế cho các tổ chức mới thành lập, cơ quan, đơn vị hành chính mới…
Để có quỹ tiền lương tăng thêm, cần điều chỉnh lại trong cơ cấu chi thường xuyên (chiếm 60% tổng chi ngân sách). Theo Bộ Tài chính, chỉ tiêu tiết kiệm 10% chi thường xuyên 9 tháng trong dự toán năm 2011 của các bộ, cơ quan trung ương và các địa phương với con số hơn 3.800 tỷ đồng.
Để có ngân quỹ tăng lương chính là việc kết hợp cả 3 phương án trên.
| Lương cao nhất sẽ đạt trên 15 triệu đồng Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đối với dự án quan hệ tiền lương, Bộ này đang nghiên cứu việc áp dụng hệ số tối đa trên cơ sở chức năng cao nhất hoặc tùy theo mức độ phức tạp của công việc. Theo đó, hệ số tối đa dự kiến có thể được nâng lên 15 thay cho mức 13 hiện tại, áp dụng đối với chuyên viên cao cấp bậc 3. Mức trung bình được nâng từ 2,34 lên 3,5. Khi đó ứng với các mức tối thiểu - bình quân - tối đa lần lượt là hệ số 1 - 3,5 và 15. Mức lương cao nhất đạt trên 15 triệu đồng, chưa kể các khoản phụ cấp, thâm niên. Có hiện tượng lót tay phong bì do lương thấp "Một số công chức đã bỏ cơ quan Nhà nước ra đi… Ngược lại, một số vẫn muốn vào bộ máy Nhà nước, do có người có thiện chí mong muốn đóng góp cho công việc chung của đất nước, nhưng không ít người muốn có một chỗ trong biên chế, thậm chí phải "mua" một vị trí xứng đáng trong bộ máy, vì họ muốn có chỗ để kiếm chác, mưu cầu lợi ích không chính đáng hoặc do những nguyên nhân khác… Thực tế, người dân và doanh nghiệp đến cơ quan công quyền, tiếp xúc với những cơ quan chức năng đã không tránh khỏi bị hạch sách, nhũng nhiễu, phải có "phong bì" lót tay… Do đó, nhất thiết phải trả lương cho đúng công chức, không để kéo dài tình trạng lương công chức quá thấp… (Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc phát biểu tại Hội thảo Cải cách tiền lương) |