Nhiều năm nay ít người thấy tết vui và có ý nghĩa. Tết như đã được lập trình theo công thức, kể cả những thú vui tao nhã hay tinh thần. Quà cáp nhiều vô kể. Đồ ăn thừa mứa. Rượu chảy như suối. Người người súng sính áo quần mới, những đồ chỉ đợi tết mới mang ra chưng diện, dù ngày thường vẫn ăn mặc đẹp như vậy. Lời chúc tụng làm thành thơ, chỉ cần chép lại và gửi đến nhiều người cùng lúc, khỏi mất công.
Hoa rực rỡ khắp ngõ phố, nhiều nơi còn đổ đi hàng thúng hoa héo úa lỡ khách mua. Những cành đào núi ngược các cung đường ngoằn ngoèo xuống phố. Người ta chặt chém cành đào ngay từ lúc nụ còn lấp ló chưa thò ra khỏi vỏ. Nhiều nụ thâm đen chả hé nở được vì cây bị bứng đi lúc còn quá non. Rồi cành đào không bán được vứt lung tung vào đêm 30, như củi ngấm nước, đun không được, để thì bừa bộn, rác rưởi. Tự nhiên thấy cảnh tàn phai, trễ nải ngay khi tết vừa mới ngấp nghé đầu ô. Tiếc cho rừng đào ở các triền núi ngày càng thưa vắng, hoang tàn. Ngày tết bỗng như nới rộng những chán nản, mệt mỏi vô cớ.
Nào là ăn uống, gặp gỡ, chúc tụng. Nào là nhắn tin cho người nọ người kia để khỏi bị chê trách là vô tâm. Vẫn là những câu quen thuộc: an lành, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng…Vẫn biết điều đó là cần nhưng không hiểu sao mình thấy có gì gợn gạo trong đó? Sao vậy nhỉ? Chợt nhận ra, có lẽ, rất ít người để tâm đến những lời chúc mà chỉ cốt làm cho xong chuyện, làm một việc phải làm, làm để khỏi áy náy...Chao ôi là tết.
Ngày xưa tết khác nhiều lắm, vui lắm, sum vầy lắm. Dư vị ngày tết dường như đã biến khỏi đời sống. Nhưng xuân thu nhị kì sẽ lại phải có tết thôi. Chắc con người sẽ phải tìm cách ứng xử với tết như thế nào đó cho hợp với cảnh và người hôm nay? Còn không sẽ chỉ là hoài niệm, chỉ là những ngày nghỉ dài của năm…Càng ngày càng có nhiều người bỏ Hà Nội, rời ngôi nhà mình ở đủ 365 ngày trong năm để trốn tết ở đâu đó. Người có tiền thì vù ra nước ngoài. Người ít tiền hơn thì đi du lịch trong nước. Còn nhiều người thì chọn cách đi phù hợp với tạng của mình. Dân phượt coi đây là dịp được tung tẩy mà không sợ ảnh hưởng đến công việc. Mình nghiện phượt từ lâu nhưng có lẽ giờ là lúc thực hịên mơ ước? Cung thiên di rất tốt với mình mà. Nên dù bị mắng, bị ghét, bị chê trách vì bỏ qua rất nhiều thủ tục, lễ nghi trong ngày tết với người thân, bạn bè thì vẫn đành dứt áo đi khỏi Hà Nội.
Nhiều người rủ vào
Vậy là ngày mồng 2 tết lên xe ngược hướng bắc. Sơn La. Mình đến Sơn La nhõn một lần, chớp nhoáng, chưa kịp cảm nhận gì thì đã đổ đèo về Hà Nội. Lần ấy theo thuyền của Công ty Sông Đà ngược dòng sông Đà lên thượng nguồn. Trên thuyền chỉ độc uống rượu, chơi nhởi, ngắm cảnh hai bên bờ sông. Cả ngày mới lên tới nơi. Vào thành phố Sơn La là bị bắt cóc đến một bản người Thái ở ngoại ô. Chả nhớ tên nữa, nhưng là bản văn hóa, tiếp khách đạt đến trình pro (chuyên nghịêp). Khách đến không say không về. May mà thời đó mình còn sức để mà vui thú với các em trai, em gái Thái, uống rượu tới tàn cuộc mà không sao. Vẫn còn ra múa hát được với mấy trai bản.
Mà gái Thái mời khéo lắm, không uống không được. Không uống cảm thấy như có lỗi, không yêu mến, thật lòng với họ. Tính mình lại cả nể, sợ người ta không vui nên cứ nhắm mắt nốc bừa. Tửu lượng có khá nhưng “phép thắng lợi tinh thần” giúp mình qua được ải rượu vùng cao. Sau đêm ấy là lên xe về Hà Nội, chưa kịp ngó ngàng thành phố Sơn La dạo đó còn là thị xã, chưa kịp tan cơn rượu lơ lửng trong người. Thế nên Sơn La vẫn là nơi chưa đến, chưa cảm nhận, chưa biết. Chuyến đi này thành ra hấp dẫn, lôi cuốn và nhiều dự cảm mới lạ.
Hôm đi Hà Nội trời nặng mây. Đi qua khỏi dốc Cun (Hòa Bình) là đã quá mù ra mưa. Mỗi lúc mưa nặng hạt, sương khói mờ mịt giăng kín tầm nhìn. Ngó trời đất mà thấy nản. Không lẽ đi chơi xuân mà đội mưa nhớp nháp thế này? An ủi là còn hơn ngồi ở nhà. Lại vẫn chỉ ăn uống, chờ người đến chúc tết hay đi chúc tết, nói những câu ai cũng nói, làm những việc ai cũng làm để thấy đi thế này là vui rồi. Nghe bạn bè mách là lên đến kilômét 70 (chả biết là ở đâu, hình như trên đỉnh núi) có quán bê chao ngon lắm.
Trong đội có cậu đạo diễn trẻ tham ăn, thèm đồ lạ nghe thế là cơn đói nổi lên ầm ầm, chỉ trông cho đến đỉnh 70. Giữa trưa mà sương giăng mờ mịt, cách 10 mét đã không rõ mặt người đúng nơi đỉnh núi. Cũng tầm bữa trưa. Đúng quán bê chao bạn bè chỉ cho. Rẽ vào để an ủi dạ dày. Đông người đi chơi xuân đáo để. Nhà hàng phục vụ luôn tay mới làm hài lòng khách. Cái món bê chao cắn ngập răng, ngọt lịm, mềm ấm. Đấy là tụi thích ăn tả thế chứ mình lâu rồi ăn gì cũng như nhau, rau hay thịt… Có khi bát cơm muối vừng còn ngon hơn khi thấy hài lòng.
Ngày tết gặp ai cũng thành quen. Chuyện trò với cặp vợ chồng đưa con về dưới quê ngoại ở Hà Tây thăm bà con họ hàng. Hỏi thăm nhau đường về xuôi và đường lên Tây Bắc. Anh bàn bên động viên: “Các bác cứ yên tâm, qua đọan này lên đến Sơn La thời tiết đẹp lắm, không nhiều sương mù như ở đây đâu”. Còn tụi mình dọa: “Đi về xuôi thời tiết chán lắm, mưa sụt sịt như khóc thầm, đường ướt át, bẩn thỉu”. Uống chào nhau chén rượu xuân, tự nhiên thấy gần gũi.
Đúng là càng đi lên, từng đọan có sương mù nhưng mỗi lúc đường sá khô ráo hơn. Cao nguyên đẹp thuộc loại nhất nước đang dần hé mở ra trước mắt. Bên đường thấp thoáng đào, mận lấp ló trong sương mờ, lúc hiện, lúc ẩn như trốn tìm. Cái nao nức bắt đầu nhen lên và dồn thành niềm vui. Một niềm vui không dễ bày tỏ với người khác mà chỉ mình tự chia sẻ với mình, tự để nó an ủi những buồn đau trước đó còn hiển hiện trong tâm tưởng. Lạ thế đấy!
Qua Mai Châu là cửa ngõ Mộc Châu. Mộc Châu chả cần nói thì ai cũng biết là thiên đường của dân phượt, của kẻ thích lang thang săn tìm cái đẹp, lãng mạn. Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Mưa thực sự chứ không còn là quá mù ra mưa nữa. Và lạnh. Cái lạnh tê tái, căm căm của vùng sơn cước. Chắc chiều khách phương xa vượt đèo dốc, bỏ tết đô hội để lên đây với cao nguyên nên đến chiều thì ngớt mưa. Sướng như bắt được của. Bắt đầu dạo chơi ở thác Giải Yếm…
Mùa này vẫn còn nước để hình dung ra cái thác là thế nào? Nghe dân ở đây bảo, phải đầu tháng 9 thì thác mới thật là đẹp và có hội hè gì đó. Cảm giác như đang đi giữa vườn thiền. Có thác nước trắng xóa. Có dòng nước tí tách chảy. Có vũng nước xanh biếc. Có những hòn đá xếp thành lối. Và xung quanh là rừng. Rừng bạt ngàn xa xa. Mùa này có rất nhiều hoa dân gian gọi là hoa cứt lợn tím ngan ngát. Tên xấu xí nhưng nhìn xa chỉ thấy một màu mơ hồ, như làn mây tím che phủ cả triền núi. Thỉnh thoảng có cây trẩu lá vàng bơ vơ một mình giữa màu xanh bạt ngàn…
Nghe nói có Ngũ động bản Ôn nên lập tức mò đến tuy trời đã khá tối, trời mưa phùn. Đường đèo quanh co, ướt át nên dù vắng lặng xe người thì cũng không thể đi nhanh. Tới bản Ôn đã nhập nhọang tối. Hỏi đường một nhà dân ở bản thì được lời khuyên là ô tô không thể vào được mà phải đi bộ mất hai, ba kilômét. Vào đến động chắc chỉ còn xem đêm buông nên đành thoái lui.
Anh chủ nhà chỉ đường vui vẻ mời mọc vào nhà chơi. Hóa ra anh ta vốn bộ đội biên phòng, xin nghỉ hưu sớm và đưa cả nhà lên đây lập nghiệp vì trót gắn bó với nơi này. Chuyên buôn bán phân hóa học cho dân nông trường trồng chè. Có ôtô con chạy việc, nhà cửa khang trang. Chuyện trò cứ như bạn bè lâu ngày gặp, kể âm ty củ tỷ chuyện gia đình, vợ con, làng xóm. Nhiễm cái hồn nhiên, cởi mở của người miền núi nên khách phương xa bỗng thấy như đến chúc tết người quen. Thế cũng vui dù chưa đến được Ngũ động.
Hôm sau hứng chí đi tiếp lên Sơn La vì chỉ cách Mộc Châu gần 100km mà nghe nói càng đi thời tiết càng đẹp. Quả đúng vậy. Bao nhiêu nước và mây mù đã trút hết ở bên kia núi nên gần đến thành phố Sơn La thời tiết càng dễ chịu. Thung lũng bắt đầu hiện ra… Tựa như cô gái Thái tắm suối đang kín đáo trút dần bộ y phục để khoe cơ thể nõn nà của mình trong làn nước. Đố ai có thể cầm lòng không dừng xe lưng chừng đèo để đắm nhìn thung lũng bên dưới.
Ruộng bậc thang đang mùa đổ nước, dù không có ánh mặt trời nhưng vẫn đủ sáng cho thung lũng ủ ê vào đông. Nhà sàn dưới thung không đông đến tức mắt, không quá ít để thấy cô quạnh. Đủ để mình hình dung về một cuộc sống êm đềm, kín đáo, quần tụ, không bon chen của các bản làng nơi đó. Cứ việc chụp ảnh mỏi tay. Chụp như bắt được dù biết rằng nhiều ảnh sau đó chỉ để xem, mỉm cười, nhớ nhung một mình. Cảnh đẹp rưng rưng thế mà chụp xấu mới lạ.
Thị xã Sơn La trước đây thế nào mình không biết nhưng thành phố thì khá rộng. Giống bất kì thành phố ở các tỉnh, thành bây giờ. Cũng mở mang và phát triển vẻ bề ngoài. Ngày tết yên tĩnh lạ. Đi gần cả tiếng mới tìm nổi một quán phở ăn đỡ đói lòng vì chả ai chịu làm việc những ngày còn là tết này. Dân mình quả là chịu chơi. Tết nghỉ dài dằng dặc. Đói, nghèo cũng phải nghỉ ngơi đủ những ngày ấy. Giữa thành phố Sơn La là nhà tù Sơn La mà ai từ xa đến đây nếu có thời gian cũng ghé qua để biết.
Đi chơi tết vào nhà tù thì đã sao? Nhà tù nằm trên một quả đồi nhỏ. Cứ tưởng nhà tù lớn lắm, hóa ra chỉ bằng một ngôi nhà lớn nằm trong trang trại nhỏ của tiểu gia bây giờ. Đổ nát hết rồi, chỉ còn lại những bờ tường vỡ, trơ trụi. Đủ để biết ngày xưa tù nhân bị giam cầm thế nào, bác Tô Hiệu từng bị ở ngục tối nơi đâu, cả nơi bác đã trút hơi thở cuối cùng…
Chán nhất là cây đào Tô Hiệu đã từng ăn sâu trong kí ức nhiều thế hệ qua sách vở, nhỏ, còi cọc, lác đác hoa. Chẳng thà chỉ cần để lại biển hiệu đánh dấu chứ ai lại trồng một cây đào còi thay cho cây đào lịch sử nếu còn sống dễ đến cả trăm? Đã là chứng nhân lịch sử thì không cần thay thế cái khác để “dựng lại hiện trường” như vậy chăng?
Mình chui xuống ngục tối giam những tù nhân cứng đầu mà thấy nao nao, rồi bỗng dưng thấy lành lạnh… Không biết giờ còn hương linh tù nhân nào vất vưởng nơi đây không thể siêu thóat? Họ ra đi lúc đầu xanh tuổi trẻ, nhiều tham vọng, ước muốn bị dập tắt thì còn luyến tiếc lắm… Mình con nhà Phật nên hiểu rằng những người như thế khó siêu sanh. Chỉ thầm cầu mong cho những cụ, những ông, những bác như thế hãy bỏ hết ràng buộc cõi trần cũ để hóa sinh vào kiếp sống khác mà tiếp tục hoàn thiện phát nguyện bồ tát của mình.
Bếp của nhà tù là cái nhà chòi giữa nhà tù, như tháp canh. Người ta vẫn còn để rổ rá, chảo gang củi đốt, dụng cụ nấu ăn… ở quanh đó. Ngậm ngùi không biết ngày xưa ai đã từng ăn những bữa cơm tù nơi này? Những người đó còn luẩn quẩn quanh đây chờ đến bữa như gần thế kỉ trước không? Một nỗi xót xa cho những người anh hùng đã ngã xuống những mong độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no cho dân tộc…
Nghe cô bán phở mách, gần thành phố Sơn La có dịch vụ tắm suối khoáng ở bản Mòng của người Thái. Ngồi xe đường dài mỏi lưng, trời lạnh nghe vậy thì như được an ủi. Cách thành phố chỉ chừng gần chục cây. Đầu bản trưng đủ các biển hiệu dịch vụ. Xe ôtô đỗ dọc đường vào bản không ít. Chả dại xông vào chỗ đông người. Tìm đến một nhà gần như cuối bản để vào. Chủ nhà vui vẻ đón khách. Nước khoáng bản Mòng không nóng đỏ da như ở Thanh Thủy (Phú Thọ), chỉ đủ ấm. Có thể trời quá lạnh? Mỗi người một phòng tắm có bể ngâm. Trầm mình xuống bể nước khoáng, bỗng thấy như mất hết mọi ý niệm. Chả còn vui, buồn, khó chịu… Nằm dài để làn nước vuốt ve, vỗ về. Nhắm mắt để thấy mình là cỏ cây hoa lá. Muốn như thế mãi…
Chủ nhà đang chuẩn bị một bữa ăn theo đơn đặt hàng, những món ăn đơn giản để bớt làm khó cho chủ nhà lúc đang tết. Ông chủ là bác sỹ trạm xá xã. Cậu con trai tên Bun cũng theo chân bố đang học y Thái Bình. Cô con gái nuôi là Mai học dưới Hà Nội cũng về nhà ăn tết. Ba bố con bận rộn cho bữa cơm của khách. Mai xinh xắn, làm con nuôi của gia đình bố Ân từ khi mới đẻ. Con bé bảo bố mẹ nuôi là người sinh ra con lần thứ 2. Mẹ đẻ Mai cũng từ Hà Nội lên ăn tết cùng. Dường như có chuyện éo le nào đó về sự ra đời của Mai nhưng chả tiện tìm hiểu?
Mai yêu bản Mòng của mình nên hồi mới về Hà Nôi bức bối không chịu nổi. Bố mẹ nuôi phải động viên mãi yên tâm ở lại học. Mai kể là yêu bản, yêu tiếng Thái, yêu văn hóa Thái, yêu các bài hát, yêu làn gió phóng khoáng, tinh sạch của núi rừng… Mơ đến lúc được trai bản chọc sàn rủ đi chơi tỏ tình vì khi rời bản cô còn chưa đủ tuổi yêu. Luật người Thái nghiêm lắm. Lúc tìm hiểu yêu nhau, đến cầm tay cũng không được. Hôn nhau thì phải để dành khi đã thành vợ chồng. Lấy chồng rồi con gái mới được bới tóc thành búi giữa đỉnh đầu để phân biệt với gái trinh. Cô gái Thái có chồng đều có một búi tóc rất dày giữa đầu trông thật đẹp.
Mình thắc mắc sao tóc con gái Thái dài thế, đẹp thế? Sau mới biết có người tóc dài và đẹp thế thật. Nhưng có nhiều người về nhà chồng được mẹ chồng cho hai túm tóc để độn thêm vào. Khi con trai sắp đến tuổi lấy vợ, mẹ chồng khi chải tóc sẽ nhặt các sợi tóc rụng để sắp thành hai túm. Bao giờ chặt chẽn tay thì thôi. Họ sẽ gói hai túm tóc đó vào một vuông khăn và trao cho con dâu vào ngày cưới. Chưa tìm hiểu ý nghĩa của tập tục đó, nhưng tự nghĩ: liệu có phải bà mẹ chồng muốn trao gửi hơi ấm từ máu mủ của mình cho người sẽ thay mặt bà chăm sóc con trai và sẽ sinh người giữ gìn huyết thống cho gia đình mình không? Bởi tóc được nuôi dưỡng từ máu huyết của người đàn bà mà. Cứ suy đoán vậy thôi…
Thú nhất là lúc tắm xong được ngồi quây bên bếp lửa ngoài sân, cùng ông chủ nướng cơm lam. Lần đầu tiên mình được tận mắt, được sờ vào ống bương cơm lam mà lát nữa sẽ ăn. Ánh lửa bập bùng xua tan cái lạnh bên ngoài, soi tỏ gương mặt quây quanh chờ ống cơm lam chín tới. Những giây phút thảnh thơi ấy chả mấy khi được tận hưởng. Rồi bữa cơm được dọn ra ngay bên bếp lửa. Mâm cơm cũng đan bằng tre theo kiểu người Thái, ghế ngồi cũng đan bằng tre thành bộ rất đẹp.
Gà bản nướng không lạ. Nhưng chấm với chẳm chéo, cái món chấm nhiều hương vị núi rừng mình mê từ lâu. Cơm thơm chỉ ăn với chẳm chéo cũng thấy bùi và thêm nhiều lần đơm. Có một món rất lạ lần đầu được ăn là món năng xổm (tiếng Thái gọi như vậy không biết nhớ có đúng không?). Làm từ da trâu nhưng chế biến sao đó mà da trâu lại trắng trong, giòn, đủ mặn, ngọt, chua, khá tốn rượu khi nhậu. Ăn đủ ngon và nhất là đong đầy sự đầm ấm của rừng núi vào bữa cơm giản dị bên nhà sàn. Thương cho những bữa tiệc đầy ắp sơn hào hải vị giữa thủ đô mà vẫn vô vị. Rồi thì bà bạn chủ nhà sang chơi. Lại chúc rượu, hát theo điệu lăm tơi…Hồn nhiên trở lại như thủa mẫu giáo.
Rồi cũng đến lúc đổ đèo quay về dù mới mồng 4 tết, ngày nghỉ còn những 4 hôm nữa. Đúng ngày về trời hửng nắng. Cái nắng hiếm hoi giữa ngày đông đẹp lạ lùng. Trời xanh cao trong vắt. Chợt nhớ bầu trời xanh của vùng Địa Trung Hải mà dịp hè mình đi qua cũng như thế này. Có nắng mới thấy rõ hoa mận, hoa đào phủ trắng hồng các triền núi, mà lúc lên không trông thấy do quá mù. Và bạt ngàn những cánh đồng cải trắng như tấm vải xanh phủ hoa. Dưới nắng màu trắng của mận, của hoa cải, màu đỏ, hồng phớt của đào bong róc ra như thể trong suốt.
Qua Loóng Luông, bản của người Mông nằm bên đường quốc lộ thì không thể vụt qua mà không lưu luyến gì. Có lẽ đó là một trong những bản người Mông còn giữ được gần như nguyên vẹn kiến trúc nhà cửa và cảnh vật nhiều chục năm nay. Đào cổ thụ còn khá nhiều. Mận trắng bao quanh bản, chen chúc với nhà cửa, lối đi. Cảm giác như vào cõi giới không có thực trên trái đất. Chợt có những “dấu lặng” để mình biết dừng lại những lãng mạn… Một bà cụ gần 100 tuổi ngồi cặm cụi thêu váy Mông cho mình. Tiếng Kinh nói không sõi lắm nhưng đủ để hiểu lời cụ nói: “Tao 100 tuổi rồi. Khổ lắm…”.
Trước đó khi dừng bên đường chụp một rừng đào phai, mình rẽ vào nhà một anh người Mông ở sâu bên trong. Làm quen với hai chị em cô bé Sênh-Sông xinh xắn hay thẹn. Thấy khách là chạy mặc dù cố gọi to xin đứng lại để mừng tuổi. Đành xộc thẳng vào nhà dù chưa được mời. Một thiếu phụ còn trẻ đang ngồi cho con bú bên bếp lửa lom dom. Biết thiếu phụ 28 tuổi, ba con, đứa cuối cùng là trai. “Thôi, mình không đẻ nữa đâu. Khổ lắm” – thiếu phụ cười khi bị hỏi có phải cố đẻ con trai không? Nhìn quanh nhà cửa trống hoác, chả có đồ đạc gì ngoài mấy bao ngô chất gian ngoài. Anh chồng say rượu vẫn đang nằm ngủ. Nhìn bốn mẹ con quây quanh bếp lửa sưởi ấm, chợt nghĩ, đây là “nốt lặng” của tết mà mình muốn kiếm tìm.
Lúc quay ra định về thì anh chồng mới lò dò đi ra, mắt đỏ kè, mặt mũi tươi tỉnh. Hỏi chuyện bán đào… “Năm nay bán được hơn 10 triệu”. “Thế cũng khá nhỉ”. Anh chàng chỉ cười. Hỏi nữa: “Thế năm nào cũng được như vậy à?”. Lại cười: “Không. Trồng ba năm mới bán được vì chờ đào lớn”. Ra vậy. Lao động ba năm để có hơn 10 triệu cho sinh hoạt của gia đình 5 người, có hai đứa trẻ đang độ tuổi đi học, một đứa còn đang ẵm ngửa… Còn Sênh, Sông lại líu ríu ngồi bên đống củi nhen giữa trời đất để xua bớt cái lạnh từ núi thổi về, nhìn khách cười bẽn lẽn, chả nói năng gì…
Chợt như nghe tiếng hát, múa lăm vông của cổ nhân vương quốc Bồn Man xa xưa vọng về cách đây hơn 500 năm. Vương quốc ấy ngày xưa trải dài từ Tương Dương, Kỳ Sơn (Nghệ An); Quan Hoa, Quan Sơn, Mường Lát (Thanh Hóa); Hủa Phan (Lào) và phần lớn Sơn La bây giờ…
Hồi đó ở Bồn Man hoa mận có phủ trắng núi rừng, bản làng như bây giờ? Hoa đào có đãi người mỗi khi xuân về? Và tiếng hát, điệu múa xòe có lôi cuốn người mộng du như bây giờ không nhỉ?