“Theo hướng Tây Bắc, qua thị xã Hòa Bình, tới ngã ba Cun, thẳng đường 6A cũ là ta như lạc vào thế giới khác - thế giới của rừng. Cái ồn ào phố thị, cái tấp nập người, xe được bỏ lại sau lưng để đắm chìm trong màu xanh cây lá. Những vạt keo, rừng luồng rủ ngọn đung đưa in bóng xuống đường. Ngay con suối bên cạnh cũng như con tằm bọc kín trong kén xanh. Và, nó chỉ lộ ra bởi tiếng rì rào, róc rách trong sự yên ả có lúc đến hoang sơ. Những ngôi nhà xây theo kiến trúc hình ống nhưng được giảm thế bí bức bởi sự che chở của vườn. Thỉnh thoảng, một cây cầu nhỏ, duyên dáng bắc qua suối, nối đường 6A với những khu nhà vườn rộng hơn, xanh hơn và đang dang rộng vòng tay phố núi. Tôi dám chắc bất cứ ai nhìn thấy những cây cầu đó cũng ước một lần được qua”.
Các tổ dân phố số 9,10,11,12, 13 của phường Thái Bình chạy dài 5-6km và “mỏng như tàu lá lau”. Một phần nhà dân vắt vẻo sườn đồi, một phần lại chênh vênh bên bờ suối. Ở giữa là con đường 6A cũ - con đường “tơ lụa một thời chạy qua”. Nay dù không còn là quốc lộ lên Tây Bắc như xưa, nhưng đây vẫn là một con đường đẹp nối thị xã Hòa Bình với cảng Bình Thanh mà ở quãng giữa có Tượng đài anh hùng Cù Chính Lan diệt xe tăng Pháp và bản Mường Giang Mỗ hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Bằng con đường này, du khách sẽ được tiếp cận hồ Hòa Bình một cách độc đáo: tới hồ từ rừng.
Khu dân cư mà tôi đang nói đến, ngoài một xóm đồng bào Dao (xóm Khuôi nay cũng đã thành tổ dân phố số 13) định cư từ lâu, còn lại tập trung vài trăm hộ, quê gốc từ trên 30 tỉnh, thành phố trong nước. Không ít người đầu tiên đến đây là cán bộ, công nhân của Xí nghiệp Vôi đá Bình Thanh, Công ty Xây dựng cơ bản lâm nghiệp, Công ty Xây dựng đường bộ I, Giao thông v.v... Mặc dù địa hình cheo leo nhưng họ đã bám đất từ khi còn đang công tác để lập làng. Đến tuổi nghỉ hưu họ lại tiếp tục gắn bó và chung sức đưa làng lên phố. Tiếp nối họ, nay thế hệ cư dân thứ ba - thế hệ nghe kể thời bao cấp của cha, anh như nghe chuyện cổ tích đang trưởng thành. Nếu ông, cha họ vì công việc rồi ở lại đây, thì họ lại từ đây mà tìm việc. Số học hành đỗ đạt thì đi công tác các nơi và coi đây là quê hương bởi họ sinh ra ở đây và nhất là bố mẹ họ đang ở đây. Số đông thanh niên lao động tự do nay đây, mai đó và số trụ lại là lực lượng chính ra tay trả lại màu xanh cho rừng.
Về việc làm, phường Thái Bình đã dành 5ha mặt bằng ngay cạnh quốc lộ 6 và ngã ba chân Cun để kêu gọi đầu tư, mở khu Tiểu thủ công nghiệp mong giải quyết một phần lao động cho thanh niên. Tuy với cơ chế thông thoáng nhưng đến nay cũng chưa thu hút được các nhà đầu tư. Về vấn đề nước sạch, do địa hình chia cắt, nguồn nước tự nhiên thiếu, giếng đào sâu mà vẫn khó khăn, mỗi năm thiếu nước đến 3 tháng. Việc dẫn nước sạch từ chân Cun lên còn nan giải vì dân ở cheo leo, không tập trung nên việc đầu tư hệ thống đường dẫn giá thành rất cao, người dân chưa kham nổi.
Những khó khăn sẽ được giải quyết dần. Cái gì phải chờ đợi thì chờ đợi. Cái gì phải bắt tay vào làm thì phải làm ngay và làm tốt. Về sản xuất, công việc đã và đang tập trung ở đây là làm chủ và phủ xanh hàng trăm hécta núi, đồi. Màu xanh ngút ngàn đang choáng ngợp ta, ấy là màu xanh của rừng trồng. Cây luồng qua nhiều mùa thu hoạch, nay đã đến lúc phải chuyển đổi để phục hồi đất. Cây keo lai tỏ rõ ưu thế không chỉ ở sức lớn nhanh mà dưới tán keo còn cho sinh lời bởi thứ cây khác.
Ông Đào Bá Ka, dân phố 12, bộc bạch: Từ năm 1999, khi mà các thứ cây dù tự phát hay trồng theo các dự án đều đã bộc lộ những khiếm khuyết của nó thì cây sả, một thứ cây “nhỏ bé” như cỏ xuất hiện. Lúc đầu, người dân nghĩ, giờ ai đun nước gội đầu bằng lá sả mà trồng nhiều? Quán “cầy tơ bảy món” sả dùng đáng bao nhiêu?... Thế mà từ một vài nhà trồng với quy mô vài trăm mét vuông, sau mở rộng ra hàng chục hộ, diện tích tính bằng hécta cũng tiêu thụ hết. Và đến nay các tổ dọc đường 6A cũ nhà nào cũng trồng sả. Xã Bình Thanh của huyện Cao Phong bên trên càng trồng nhiều sả.
Ông Ka kể: Thỉnh thoảng tôi về quê Mỹ Đức – Hà Tây, trong mâm cỗ, món sả đủ chia mỗi người một củ. Thấy ai cũng tấm tắc khen ăn sả thơm mà lành, tôi liền kể chuyện trồng sả cho mọi người nghe:
Dưới tán keo, sả được trồng cách nhau 60cm, hay nói đúng ra là 60cm2 thì trồng một nhánh. Cây sả phát triển nhanh, không bao lâu đã thành khóm. Chỗ đất tốt mọc cao ngập vai người. Mỗi năm, sả cho thu hoạch 3 lần. Nếu để lâu, củ sả cũng tự teo. Dụng cụ thu sả là những con dao nhọn, nhỏ dùng để sấn vào gốc những nhánh xung quanh khóm. Khi đã chặt tay, từng nắm sả được đặt xuống đồi như những nắm lúa vừa cắt. Ước tính đủ gánh, người đi thu quay lại lấy liềm xén sả như xén lúa. Chỉ khác ở chỗ, lúa xén lấy ngọn thì sả xén lấy gốc. Từ củ đến cẫng dài trên 20cm là vừa xếp gọn vào bao tải để gánh xuống đồi.
Vợ chồng anh Phạm Văn Cường và chị Đào Thị Khanh là một trong những người chuyên mua gom sả của khu vực này. Vào chính vụ, mỗi ngày anh chị mua và vận chuyển 2-3 chuyến ôtô loại 1,5 tấn về tiêu thụ ở Hà Nội. Sả được cắt bằng chằn chặn, gọn gàng trong những bao tải dứa rồi chất lên những chiếc xe nhỏ dễ bốc xếp lại cơ động. Đa số sả được vận chuyển về thành phố vào ban đêm để sáng ra người mua về nhận hàng tỏa đi các nơi. Ở Hà Nội, sả được tập trung về chợ Bắc Qua. Từ nhiều năm nay, có lẽ một phần do khẩu vị, một phần do an toàn thực phẩm đã đến độ báo động đỏ nên củ sả - một thứ gia vị thơm, cay, nóng ngày càng được bổ sung vào nhiều món ẩm thực, từ đó làm tăng cầu.
Theo những người chuyên mua buôn sả thì tất cả nguồn củ sả họ mang về miền xuôi đều để bán cho các quán ăn. Từ nhà hàng đặc sản cho tới các quán bình dân bây giờ đều có gia vị sả. Chưa có mối tiêu thụ nào mua sả để chưng cất tinh dầu hay chế biến dược phẩm.
Lợi thế của cây sả là dễ trồng, trồng một vụ thu 3 năm, mỗi năm thu 3 đợt. Những năm đầu khóm lớn, củ to và năng suất cao. Bình quân mỗi khóm mỗi năm cho từ 1- 1,5kg củ thì đã là trên 10 tấn/ha/năm.
Sả trồng trên đồi, sả trồng khe núi, bờ suối. Chỗ nào hở đất là đều trồng sả được. Cùng với cây bương, cây luồng và keo lai, cây sả đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong thu nhập của nhân dân các tổ dọc đường 6A cũ thuộc phường Thái Bình.
Ngồi trong nhà ông tổ trưởng tổ 12, nhìn ra đường nhựa, loang loáng những xe máy cõng những bao tải sả về vị trí tập kết. Thỉnh thoảng ông Ka nhắc: Thật đúng là “trời sinh voi, trời sinh cỏ” anh ạ! Câu nói trên có thể không “bám” lắm ở nghĩa tuyên truyền nhưng tôi hiểu ông tổ trưởng muốn nói đến sự chọn lọc tự nhiên. Vì cây sả không phải cây bản địa, không phải trồng theo dự án, không phải đầu tư bài bản, nghĩa là không có định hướng. Nó xuất hiện ban đầu như “cỏ”, thế mà thành “cây” và thành “rừng” và để rồi chiếm tỷ trọng đáng kể trong thu nhập của các gia đình.
Cùng với phát triển kinh tế mà chuyện cây sả thu hút sự chú ý của chúng tôi, thì về đời sống văn hóa, ông Nguyễn Xuân Bằng - Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường phấn khởi: Chúng tôi ở đây tiếng là phố nhưng chất làng vẫn sâu đậm. “Chín người, mười làng” thì giống phố, nhưng “tối lửa tắt đèn có nhau” thì vẫn là làng. Nhà ai có công to, việc lớn thì cả tổ xúm vào mỗi người một tay như lo việc nhà mình. Đêm, đến nhà nhau vẫn loáng thoáng đèn pin hoặc bập bùng ánh đuốc.
Kinh nghiệm cho thấy, muốn giữ được đoàn kết thì phải chủ động với những mâu mắc có thể nảy sinh. Trong thời gian qua, vướng mắc phát sinh không nhiều và đều được giải quyết bằng hoà giải. Có lẽ xuất phát từ việc từng gia đình cán bộ, công nhân viên ở xen nhau bên bờ suối, chân đồi, ranh giới vốn là cây que, bờ rào không lấy gì là quan trọng. Nhưng đến khi kinh tế khấm khá, lúc làm nhà, xây tường, vấn đề mới nảy sinh. Chính vì thế mà trong các cuộc họp dân, việc chú ý nhất vẫn là khâu ranh giới, đất đai. Do được nhắc nhở thường xuyên nên mọi người, mọi nhà đều có ý thức về vấn đề này và hạn chế thấp nhất những vướng mắc.
Ngày hội đại đoàn kết 17-11 hằng năm thực sự đi vào đời sống. Một số tổ do chưa “kiếm đâu ra” mặt bằng nên chưa có Nhà văn hoá. Đến ngày Đại đoàn kết thì nhờ sân của Công ty Xây dựng cơ bản lâm nghiệp. Các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao với các tổ khác được tổ chức. Điệu múa chuông của dân tộc Dao xen với ví, đúm của dân tộc Mường và nhiều làn điệu dân ca các vùng miền làm thành bản hòa ca thắm đượm tình đoàn kết. Ý định của phường là vài tổ dân phố tổ chức làm một điểm, nhưng nguyện vọng của nhân dân vẫn là tổ nào làm tổ ấy cho sâu. Vì cuộc họp cuối năm ấy là cuộc sinh hoạt quan trọng để người dân kiểm điểm toàn diện tổ mình, từ đó đề ra phương hướng phấn đấu cho một năm mới.
Để duy trì tốt lễ hội này, quỹ đoàn kết được lập, mỗi gia đình góp 15.000đ/năm. Quỹ này được chi dùng vào việc hiếu và thăm hỏi người ốm đau. Thế mới biết chủ trương, chính sách đúng thì nhanh chóng “ăn sâu bám rễ” trong nhân dân.
Tạm biệt khu dân cư dọc đường 6A cũ của phường Thái Bình, trong tôi xốn xang cảm xúc. Ký ức những năm 70 – 80 của thế kỷ trước tràn về. Kỷ niệm về chặng đường 25km từ ngã ba Cun lên Chợ Bờ – huyện lỵ Đà Bắc sao mà sâu nặng. Những đoàn xe tải số 2 và số 20 cuốn bụi mù trời; những chuyến xe ca hiếm hoi trong ngày nêm người ì ạch bò lên dốc Giang Mỗ. Lác đác bên đường là những căn nhà lá nhỏ nhoi. Qua làn bụi đỏ, thấp thoáng những bóng hồng ngồi chẻ nam, đan cót và chào người qua đường bằng những nụ cười sơn nữ. Mới đấy mà đã 36 năm. Những bóng hồng ngày xưa, nay đã nên bà. Và, chúng tôi, những chàng trai mười tám, đôi mươi ngày ấy nay đã bước vào tuổi “tri thiên mệnh”. Gặp nhau, ôn lại chuyện xưa, ai cũng nhớ như in cái thời vật chất khó khăn, nhưng tình người chân thật, trong sáng lắm.
Nay về lại nơi này, thấy đời sống hiện hữu của bà con tuy còn không ít khó khăn, nhưng chắc chắn sẽ được cải thiện nhiều trong tương lai gần bởi những cố gắng vượt lên của lãnh đạo và nhân dân phường Thái Bình đang đơm hoa kết trái. Tôi tin, tất cả các tổ dân cư của phường Thái Bình đều giữ gìn và nhân lên tình làng để cùng nhau “xây” phố