“Đội quân ma” của Thiên hoàng Nhật Bản ở nước ngoài

Một trong những câu chuyện kỳ lạ nhất về Chiến tranh thế giới II đó là một toán lính Nhật đã không tự sát mà sống trốn tránh trong một vùng đất xa lạ để tự bào chữa cho họ thoát khỏi nỗi sỉ nhục bị thất bại suốt một thời gian dài kể cả sau khi kết thúc chiến tranh. Họ biến thành một thứ gọi là “những bóng ma sống”.

Họ sống trong những cơn ác mộng bởi chiến tranh và chịu sự phán xét của tòa án lương tâm cùng nỗi giày vò thống khổ.

 “Bi kịch” Hiroo Onoda

Một trong những người lính nổi tiếng nhất trong “đội quân ma” là một sĩ quan tình báo thuộc quân đội Thiên hoàng Nhật Bản có tên là Hiroo Onoda. Onoda bắt đầu làm việc tại lực lượng lính bộ binh của quân đội Thiên Hoàng, được huấn luyện để trở thành một sĩ quan tình báo.

Một thời gian ngắn sau khi phát xít Nhật xâm lược Philippines vào ngày 7-12-1941, Onoda lên tàu sang xứ lạ, và khoảng năm 1944, ông phát hiện mình đang ở Lubang, một hòn đảo cách thủ đô Manila chừng 90 hải lý về phía tây nam. Sau đó các lực lượng quân Đồng minh được dẫn đầu bởi Tướng Mỹ-Douglas MacArthur, đã tiến hành một trận chiến khốc liệt nhằm đẩy bật quân Nhật ra khỏi Philippines và đến tháng 3-1945, họ đã giải phóng Manila.

Lính thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Saipan trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II.

Lính thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Saipan trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II.

Các lính Nhật khi đó chỉ đơn giản là bị phân tán và mất phương hướng, nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục ở Lubang trong hình thái chiến tranh du kích nhiều năm sau đó. Hiroo Onoda nằm trong số họ và những người lính Nhật này thường xuyên ẩn hiện để tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng đối phương. Sau đó những người đồng đội này lớp thì đầu hàng, lớp bị giết trong các trận đánh, chỉ còn Onoda may mắn sống sót, nhưng cuộc chiến trong ông chỉ thực sự chấm dứt mãi 29 năm sau đó.

Trong khi cả thế giới dõi theo việc đầu hàng của người Nhật thì Onoda không tin nó là sự thật, khẳng định rằng tất cả chỉ là đòn tuyên truyền. Trong mắt Onoda, chiến tranh đang tiếp diễn và ông phải phục tùng mệnh lệnh. Onoda sống một mình trong những cánh rừng già của Philippines. Ông hay đột nhập các nông trang để lấy cắp thực phẩm hoặc gia súc, và sẵn sàng giết bất kỳ ai có ý đồ ngăn cản. Vài nạn nhân đã bị thiệt mạng trong các vụ này. 

Onoda đã cố gắng hết sức để giữ gìn vóc dáng cao lớn, cũng như cẩn thận lau chùi vũ khí bóng nhoáng, vốn là niềm tự hào của người lính.

Onoda từng phát biểu: “Mỗi người lính Nhật luôn sẵn sàng quyết tử, nhưng một sĩ quan tình báo như tôi sẽ không thể chết và phải tiến hành chiến tranh du kích đến cùng. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì quả là một nỗi ô nhục”.

Những năm sau đó chính quyền Philippines đã cố gắng chiêu dụ Hiroo Onada ra khỏi rừng nhưng đều không thành công. Gia đình và bạn bè của Onada thậm chí đã đến đảo Lubang gọi loa và phát tờ rơi nói rằng ông sẽ an toàn khi ra khỏi rừng, nhưng Onada không tin. Ngày 20-2-1974, Onado tình cờ chạm trán một nhà thám hiểm rừng già kiêm thợ săn Yeti người Nhật Bản, tên là Norio Suzuki. Người này đặt mục tiêu sẽ tìm ra Onada và rất sửng sốt khi nhìn thấy viên sĩ quan trong rừng.

Không lâu sau đó, một thông điệp đã được gửi tới Hiroo Onoda, viết bởi Thiếu tá Yoshimi Taniguchi, người từng là chỉ huy của Onoda trong thời chiến, giờ đây ông đang là một thương nhân. Ông Taniguchi sẵn lòng quay trở lại đảo Lubang vào năm 1974. Nơi đây ông đã đoàn tụ với người thuộc cấp 52 tuổi, khi đó Onoda dáng người mệt mỏi, quần áo cáu bẩn nhưng vẫn đeo súng trường và thanh kiếm.

Ông Taniguchi đã giải thích cho người lính của mình rằng chiến tranh đã lùi xa 3 thập niên vị thiếu tá cũng đọc tuyên bố chính thức đầu hàng và “hạ lệnh” cho Onoda ngừng nhiệm vụ. Onoda được đưa tới thủ đô Manila, “đầu hàng” Tổng thống Philippines-Ferdinand Marcos và nhận được sự ân xá trở về Nhật Bản.

Tuy nhiên, Hiroo Onoda chưa bao giờ thực sự hòa nhập với cuộc sống ở quê nhà hay trong xã hội hiện đại. Ông đã đi tới một vùng xa xôi hẻo lánh mãi tận Brazil để bắt đầu dựng một nông trang dành cho những người Nhật di cư sống một cuộc đời bình dị, chăn nuôi gia súc ở Terenos, Mato Grosso do Sul.

Onoda lấy vợ và quay lại Nhật Bản vào năm 1984, mở một ngôi trường dạy về cách sống còn trong thế giới hoang dã. Ông đã sống những ngày tháng cuối đời ở Nhật trước khi qua đời vì những biến chứng từ căn bệnh viêm phổi vào tháng Giêng năm 2014, thọ  91 tuổi.

 “Người rừng” Shoichi Yokoi

Trước Thế chiế 2, Shoichi Yokoi là thợ may, năm 1941 thì phục vụ quân ngũ ở Mãn Châu, sau đó lên tàu sang những cánh rừng già nhiều muỗi ở đảo Guam vào năm 1944. Khoảng tháng 7-1944, Mỹ tiến hành một cuộc phản công dữ dội chống lại sự đồn trú của quân Nhật trên đảo Guam. Cuối cùng quân Nhật bị đẩy văng khỏi Guam, Yokoi và những người lính Nhật khác bị phân tán trong các vạt rừng già bạt ngàn ở Guam. Họ tự chống chọi để tồn tại.

Trong vòng vài năm, số lính Nhật tàn dư cứ rơi rụng dần, nhưng Yokoi sống sót nhờ vào sự tạp ăn của mình. Rắn, ếch, chuột, côn trùng, kỳ đà, sâu hay mọi thứ đều biến thành thực đơn của Yokoi. Ông cũng nghĩ ra nhiều cách bẫy thú hoang rất tài tình để lấy thịt dự phòng. Yokoi biết cách xóa dấu vết của mình để tránh bị phát hiện, cũng như tự học cách ngụy trang, đào hang để ngụ cư, và sống hòa mình vào đại ngàn hoang dã.

Khoảng năm 1964, các đồng đội của Yokoi đều chết vì lũ lụt, đói kém, ăn trúng động vật độc hay bệnh tật, nhưng Yokoi vẫn kiên trì một mình đấu tranh để sinh tồn. Trái với Hiroo Onoda, Yokoi luôn tin rằng ông sẽ được đồng đội cứu mình và ông cố gắng sống để được gặp mặt đồng đội. Yokoi ngày càng trở nên tiều tụy, tay cầm khẩu súng trường gỉ sét. Yokoi trở thành “bóng ma” trong rừng và khi nghe tin chiến tranh kết thúc, ông lại cố gắng lủi sâu hơn vào rừng già bởi lo sợ sẽ bị bắt giữ và bị hành quyết.

Sau 28 năm sống chui lủi, vào năm 1972, Shoichi Yokoi đã bị phát hiện bởi một toán thợ săn. Lo sợ bị đám người này giết, Yokoi đã lập mưu lấy cắp các khẩu súng trường nhưng sau đó toán thợ săn vẫn quật ngã “người rừng” và mang ông ra thế giới văn minh. Bị bắt là một nỗi sỉ nhục của người lính vì thế Yokoi đã phủ phục xuống đất và cầu xin đám thợ săn hãy giết mình ngay khi đó.

Cũng như Hiroo Onoda, việc Shoichi Yokoi quay về Nhật đã tạo nên một cơn sốt trong giới truyền thông. Nhưng ngay cả khi lập gia đình, Yokoi vẫn nhận ra rằng ông không thể tự điều chỉnh hành vi trong thế giới văn minh. Yokoi lại lên đường quay trở lại Guam, sống và qua đời ở đó vào năm 1997, hưởng thọ 82 tuổi.

Một cuốn sách viết về Shoichi Yokoi mang tiêu đề “Cuộc chiến riêng tư và cuộc sống của Yokoi ở đảo Guam 1944-1972, đã được xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 2009, và một bảo tàng ở Guam còn có không gian triển lãm về ông.

 “Con cáo” Sakae Oba

Oba từng là giáo viên tại một trường công và gia nhập quân đội Thiên hoàng năm 1934. Khi Thế chiến 2 bùng nổ, Oba qua Trung Quốc và sau đó chuyển sang đảo Saipan (Mỹ). Tháng 2-1944, Oba và 600 lính Nhật khác bị mắc kẹt ở đảo Saipan sau khi chiếc tàu Sakito Maru của họ bị tấn công và bị đắm bởi ngư lôi của Mỹ. 

“Con cáo” Sakae Oba chính thức đầu hàng các lực lượng Mỹ.
“Con cáo” Sakae Oba chính thức đầu hàng các lực lượng Mỹ.

Họ tái tập hợp lực lượng trên đảo Saipan và Oba nắm vai trò phụ trách một trạm y tế cùng 225 quân nhân khác. Không lâu sau đó, khi thủy quân lục chiến Mỹ tấn công toàn diện các bãi biển của người Nhật, cuộc chiến dữ dội đã buộc Oba cùng những người đồng đội phải trốn lên núi Tapochau.

Không có nguồn cung, thiếu thốn thức ăn và thuốc men, đạn dược, các lực lượng Nhật ở đảo Saipan thề sẽ mở cuộc phản công hơn là chịu chết. Họ tập hợp lại quân số xấp xỉ 4.000 người để thực hiện một cuộc tấn công quyết tử vào ngày 7-6-1944.

Một cuộc chiến khiến người Mỹ phát hoảng khi mà những người lính Nhật dù súng không có đạn vẫn lăn xả vào kẻ thù, họ dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà hay dùng đao, kiếm hay bất kỳ thứ gì khác mà họ có được. Khi cuộc chiến kết thúc, gần như tất cả lính Nhật đã tử trận. Nhưng trên thực tế, một số người đã sống sót, bao gồm cả Sakae Oba; ông đã chỉ huy một nhóm khoảng 46 lính Nhật sống sót sau cuộc chiến đẫm máu, quay lên núi Tapochau.

Dưới sự chỉ huy của Sakae Oba, các đồng đội của ông đã thực hiện nhiều cuộc tấn công du kích, đột kích vào các vị trí của quân Mỹ, đánh cắp các nguồn hậu cần. Họ trở thành cái gai trong mắt thủy quân lục chiến Mỹ; bản thân Oba bị gắn biệt danh là “con cáo”. Lính Mỹ thường xuyên lùng sục và đặt bẫy nhằm tóm cho kỳ được Oban nhưng ông đã rất khôn khéo để tránh những cái bẫy này.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Oba và đồng đội vẫn không tin đó là sự thật và cáo buộc những bức ảnh về vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima là chuyện bịa đặt. Họ tiếp tục các chiến thuật trong vòng 16 tháng sau đó, quấy rối hàng vạn lính Mỹ đang đồn trú trên đảo Saipan và tiếp tục các cuộc đột kích dù rằng đã lâu họ không còn quân thù nào. Đến tháng 11-1945, Oba mới được thuyết phục rằng nước Nhật đã đầu hàng sau khi nguyên Thiếu tướng Umahachi Amô khẳng định rằng Thế chiến 2 đã thật sự kết thúc.

Khi quay về Nhật Bản, Oba đã không nhận được sự chào đón như cách mà truyền thông và dân chúng Nhật đã đón tiếp Onoda và Yokoi. Ông bị đối xử như người không giá trị vì bị cho là hèn nhát đã không “quyết tử” cùng đồng đội tại chiến trường trên đảo Saipan. Không đầu hàng nghịch cảnh, Oba đã không ngừng phấn đấu và trở thành một doanh nhân thành công. Chuyện đời của Sakae Oba đã được viết trong nhiều cuốn sách, đáng chú ý là tác phẩm “Samurai cuối cùng” được chuyển thể sang tiếng Anh.

 “Sói hoang” Teruo Nakamura

Chào đời tại một lãnh thổ từng cho người Nhật chiếm đóng là Formosa (Đài Loan ngày nay), mang tên là Attun Palalin. Nakamura là tên tiếng Nhật khi ông gia nhập quân đội Thiên hoàng năm 1943. Nakamura được phái tới hòn đảo Morotai (Indonesia), nơi bị quân Mỹ tấn công vào tháng 11-1944.

Trước hỏa lực mạnh của người Mỹ, quân Nhật lùi sâu và cuối cùng biến mất vào rừng già để thực hiện các cuộc chiến tranh du kích. Nhiều lính Nhật lâm cảnh đói khát và bệnh tật còn những người sống sót lại rơi vào tình trạng mất phương hướng khi không có nguồn cung cấp nào. 

Nakamua bí mật dựng một ngôi nhà bán kiên cố ngay tại khoảnh đất trống của vùng núi Garoca. Ông làm rẫy, trồng ớt đỏ, chuối, khoai sọ và đu đủ. Ông cũng tự mình thuần hóa lợn rừng và các loài động vật rừng khác. Nakmura sống sót nhờ các vụ mùa trong khi ở quê ông ai cũng ngỡ ông đã chết.

Bản thân ông luôn lo sợ các đồng đội tìm cách mưu hại, và thậm chí khước từ việc đầu hàng. Sau nhiều năm chỉ có số ít phi công và cư dân địa phương thấp thoáng nhìn thấy bóng ông đâu đó trên hòn đảo, và chẳng ai biết ông là ai, từ đâu đến.

Sau khi Hiroo Onoda ra trình diện vào năm 1974, lúc này mọi sự chú ý chuyển hướng vào Nakamura, người đang sống đâu đó trên hòn đảo Morotai. Nhận thức được người lính thất lạc này, Đại sứ quán Nhật ở Jakarta đề nghị giúp lần ra dấu vết của người lính bí ẩn.

Sau 3 ngày tìm kiếm, vào ngày 18-12-1974, một toán lính Indonesia đã cất vang bài quốc ca Nhật Bản với hy vọng Nakamura sẽ nghe thấy cũng như nhằm xoa dịu tinh thần của người lính Nhật. Toán lính đã tìm thấy Nakamura đang run bần bật trong căn lều của mình. Họ đưa ông tới bệnh viện ở Jakarta. Trong thời gian sống trên đảo Morotai, ông đã làm bạn với một thợ săn và từng giải cứu một cô gái trẻ thoát khỏi nguy hiểm.

Vì những hành động này, ông được dân đảo gọi là “Người Nhật tốt bụng” và nhận được sự cảm thông từ dân chúng Indonesia. Thật không may, khi bước ra khỏi rừng, Nakamura đã không có nhà, không có căn cước, không quốc tịch khi mà Formosa đã từ lâu không còn tồn tại, cũng như không còn chế độ Thiên hoàng như thời ông phục vụ. Vì không phải là người Nhật nên Nakamura không được truyền thông và dân chúng Nhật chào đón. Ông chỉ nhận được một khoản tiền mặt từ Chính phủ Nhật.

Nakamura quyết định quay lại Đài Loan năm 1975, ông khám phá ra rằng mình có 1 đứa con trai mà ông chưa từng gặp, còn vợ ông thì đã tái giá sau khi nghĩ rằng chồng đã chết. Người vợ cũ sau này quay lại và cưới ông, nhưng cuộc hôn nhân này không diễn ra được lâu vì Nakamura đã chết bởi bệnh ung thư phổi vào năm 1979.

Chưa bao giờ ông có được cuộc sống trọn vẹn dù ở Nhật hay Đài Loan và đều không được công nhận là công dân tại 2 nước này. Có lẽ một phần của Nakamura vẫn đang ở lại trong cánh rừng xa xôi trên đảo Morotai và ông sẽ quay lại đó nếu có cơ hội.

Nguyễn Hải

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.