Ông tên là Nguyễn Ngọc Đinh, bà tên là Phạm Thị Quảng, đều là dân Hà Nội gốc, lấy nhau từ thuở đôi mươi, dù hơn 60 năm qua không có con cái nhưng vẫn sống với nhau rất hạnh phúc. Hiện tại, hai ông bà đều xấp xỉ 90 tuổi, có một cửa hàng trà đá vỉa hè nằm trên phố Đào Duy Từ. Hễ ông kêu "em ơi" thì bà vẫn "dạ", "thưa". Hai ông bà vẫn đọc thơ cho nhau nghe và suốt mấy chục năm qua, nếp sinh hoạt của hai ông bà vẫn như vợ chồng son ngày nào.
Từ mai mối, "phải duyên nhau thì thắm lại"
Sở dĩ tôi nhắc đến hai từ "mai mối" bởi nhẽ chuyện tình già của hai ông bà bắt nguồn từ cô em chồng vốn là em gái của ông Đinh. Nhận thấy cô em gái của chồng nhanh nhẹn, tính tình khá dễ chịu, cô mới mách nước đánh đường gợi ý cho mẹ mình làm mối cho ông Đinh. Mặc dù biết nhau từ trước vì hai bên gia đình thông gia có qua lại với nhau nhiều nhưng sau lời gợi ý đó, hai ông bà mới bắt đầu để ý nhau. Tuy nhiên cũng chỉ gọi là để ý thế thôi chứ chẳng có gì. Thời đó, nam nữ bẽn lẽn, không có lộ liễu và vồ vập như bây giờ.
Cuối năm 1946, thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng và Nhà nước, trừ những chiến sỹ thực hiện nhiệm vụ ở lại bảo vệ Hà Nội thì tất cả mọi người đều phải sơ tán lên Việt Bắc. Trong số những người "cố thủ" ở lại, người em trai của ông không may đã hi sinh dưới làn mưa bom của kẻ thù. Lúc bấy giờ, cụ nhà ông buồn quá nên xin phép với cụ nhà bà là "cho hai đứa nó về làm bạn với nhau cho vui". Chiều lòng bố mẹ, hai ông bà cũng đồng ý "về làm bạn với nhau cho vui" thật sau khi đi sơ tán được mấy tháng. Nhưng có giao kèo đó là: "Trong lúc nước sôi lửa bỏng như thế, anh cứ đi công tác, tôi cũng sẽ đi công tác, hoàn thành nhiệm vụ, bao giờ xong việc thì mới về ở với nhau". Lúc đó, ông 21 tuổi, bà vừa tròn 20, ông là tuyên truyền viên, bà là cán bộ phụ nữ, hai ông bà đều đang ở độ tuổi thanh xuân như đóa hoa nở rộ của đời mình, tươi thắm và sôi động vô cùng.
Thực hiện nếp sống mới nên đám cưới của ông bà diễn ra hết sức giản dị. Thay vì bàn thờ tổ tiên thì có lá cờ Tổ quốc chứng giám, bên dưới có ủy ban, mấy dãy ghế dài xếp ngay ngắn trong trụ sở, không có người thân trong gia đình mà đến chúc phúc chỉ có người dân bản địa. Khi kể lại cho tôi nghe, giọng bà Quảng hồ hởi, từng câu chữ rành mạch khiến người đối diện cảm thấy dường như kí ức chưa bao giờ cũ, nó vẫn đang hiển hiện đâu đây trong đôi mắt biết nói của người phụ nữ Hà thành này. Bà còn đọc đầy xúc động những câu thơ của đồng đội tặng vợ chồng ông bà trong đám cưới đơn sơ nhưng ấm lòng của sáu mươi năm về trước: "Nâng chén rượu ân tình/ Đây là lúc đôi uyên ương gặp gỡ/ Đây là khi chắp cánh cặp hoa vàng/ Hoa và lá nhởn nhơ cười trong nắng/ Nhạc ở lời chim vươn trong mây trắng/ Ngả nghiêng say trong chén rượu ân tình"…
Và chén rượu ân tình năm nào, hai ông bà đã chúc nhau và uống đến tận bây giờ mà vẫn chưa cạn chén đời, mà uống mãi "chửa" hết say. Cái duyên tình ấy qua bao nhiêu dãi dầu và năm tháng, về già còn có phần thắm đượm, nồng nàn hơn dù rằng ông đã yếu, bà đã run.
"Yêu dấu cho người muôn thuở dễ thương"
Hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông bà quay về Hà Nội và sống tại căn nhà ở phố Đào Duy Từ như hiện nay. Bà bị đạn ở chân nên chân đi không được xa và đi cũng không vững như mọi người. Ông làm thợ tiện ở xí nghiệp điện dân dụng. Chủ nhật nào ông cũng đèo bà đi chơi khắp các ngõ ngách của Hà Nội. Tối thì lên Lăng Bác chơi, rồi ông chở bà đi ăn kem Tràng Tiền… Hà Nội ngày ấy không có nơi nào không lưu giữ tiếng cười vui, trò chuyện của ông bà.
Để phụ họa thêm cho câu chuyện sinh động, bà đọc tôi nghe một đoạn thơ bà viết tặng ông: "Ngồi sau xe anh rất yên tâm/ Anh đi chẳng vội cũng chẳng nhầm/ Đường phố nào đâu em cần biết/ Bản đồ đã sẵn ở tim anh". Những câu chữ có phần giản đơn ấy chẳng hiểu sao vang lên trong một chiều Hà Nội âm u lại có sức lay động đến thế. Tự dưng tôi lại nhớ nhạc phẩm "Rong chơi cuối trời quên lãng" của Hoàng Thi Thơ. Ông bà cũng là những kẻ hành khất "đi lang thang, quên ngày tháng, quên trần gian" nhưng nhân tình vẫn bên mình chứ không hoang hoải như trong bài hát kia. Cứ thế, bên nhau đi hết cuộc đời, bên nhau đi hết phận này.
Điều đặc biệt là suốt mấy chục năm lấy nhau, hai ông bà không có con. Năm ông 50 tuổi, vì muốn ông thực hiện trách nhiệm với gia đình, dòng họ nên bà đã đi tìm vợ cho ông với mục đích người vợ này sẽ sinh cho ông người nối dõi tông đường. Rồi bà cũng tìm được vợ hai cho ông. Bà hai không xinh đẹp nhưng được cái dễ thương. Rồi bà thuê một nhà bên cạnh cho ông và vợ mới ở. Ông vừa ở bên đó vừa bên này. Còn khi ăn cơm thì ăn tất bên này. Cuộc sống cũng không có gì xáo trộn hay sứt mẻ.
Tuy nhiên 22 năm sau đó, bà hai cũng mất. Và trong suốt quãng thời gian đó, ông và người vợ mới cũng không thể nào có con. Thậm chí, bà còn viết một bài thơ để viếng bà hai, trong đó có đoạn: "Em là tay trái của anh/ Chị là tay phải chúng mình thương nhau/ Sống chung chưa được bao lâu/ Mà em lại nỡ xa nhau mất rồi/ Em đi chị cũng ngậm ngùi/ Thương người em gái cuộc đời gian truân/ Sống thì vui với gia đình/ Ra đi là hết nợ trần em ơi/ Số là số phận cả rồi/ Cũng là thôi cũng là đành/ Nằm yên ngủ giấc ngon lành ngàn thu". Có lẽ do số trời đã định chăng? Bà không biết nhưng chuyện đã thế thì còn biết làm gì? Thì như câu thơ nghĩa tình kia, "cũng là thôi, cũng là đành", vì mình đã lỡ "bói hoa" cho một thời con gái, phải không?
Hiện nay, ông rất yếu, đi lại có phần hạn chế, tai nghe không còn rõ nữa, nếu ai muốn nói chuyện thì bà ngồi bên cạnh trở thành phiên dịch viên cho ông. Ông hay ngủ nhiều, làm bà sợ ông rơi vào "cơn mê ngủ vĩnh viễn" nên buổi tối, bà vẫn canh chừng hễ ông ngủ say quá thì lay ông dậy. Ông già yếu vậy nhưng bà cũng chẳng khá hơn. Trên người bà, có rất nhiều bệnh đang mưng mủ và đục khoét tuổi già của bà như u vú, chân vừa bị đạn, vừa bị xơ vữa động mạch, lại vừa suy tĩnh mạch. Đó là chưa kể bà gặp khó khăn trong việc ngẩng đầu lên do di chứng chiến tranh, bị thoái hóa đốt sống cổ 30 năm nay, đau dạ dày liên miên…
Tuy thế, bà vẫn lạc quan với niềm vui dung dị của đời mình. Cũng may bà còn khối óc tỉnh táo, còn một trái tim chưa bao giờ già nua và mỏi mệt. Hằng ngày ông bà vẫn kể cho nhau nghe những chuyện vui buồn. Bà vẫn đọc thơ ngày xưa đồng đội tặng ông bà, rồi thơ bà viết tặng ông. Sáng sáng, bà lại mua quà sáng cho ông. Lúc ông khỏe hơn thì ông tự chống gậy đi ra hàng. Hạnh phúc, đôi khi chỉ là những điều nhỏ xíu vậy thôi. Ông có vẻ ít nói, trầm tính nhưng khi nói chuyện với bà, nụ cười gượng gạo khi gặp người lạ đã biến thành một sự nhẹ nhõm đến lạ kỳ. Hai con người, hai mảnh ghép của một cuộc đời vốn dĩ không hoàn hảo, nhưng lại bao dung, đùm bọc và thương yêu lẫn nhau. Có thế, mới cùng nhau đi qua những ngày rầu rĩ chán nản. Cũng chỉ có thế, tuổi già mới không còn là nỗi hoảng sợ triền miên nữa. Vì yêu thương nghe thật gần, thật trọn vẹn và thật thứ tha.
Và với những con người như thế, cuộc sống thật hiền lành. Dẫu cho mai này trùng phùng cùng thiên thu thì cũng là một đợi chờ sau cuối để về một bến bình yên khác, vẫn hi vọng tương phùng cùng nhau và được sống với nhau như thuở ban đầu dẫu rằng câu chuyện của mình chẳng phải giống "cái thuở ban đầu lưu luyến" của nhiều người đâu, thời mà ông tặng bà dăm đôi guốc phi mã mà trong lòng chưa vướng một hồi tương tư và duyên tình bắt nguồn từ một sự mai mối của tiền kiếp