Xưa kia, đồng bào Chơ Ro ở vùng rừng Nam Cát Tiên từng có một làng mà trai gái không tìm đâu ra được “một nửa” của mình để kết duyên. Chỉ vì quy định “hà khắc” trong việc dựng vợ, gả chồng mà những chàng trai, cô gái ở nơi này phải ở giá vì không có người để lấy.
Gian nan đi tìm “một nửa”
“Kết hôn cùng huyết thống, dù qua mấy đời đi chăng nữa thì đó là điều cực kỳ tối kỵ của người Chơ Ro”, già làng Nguyễn Văn Nổi (83 tuổi, ở xã Phú Lý) khẳng định chắc nịch với chúng tôi như thế. Hiện già Năm Nổi được xem là thế hệ cố cựu hiếm hoi còn sót lại của đồng bào Chơ Ro ở vùng sâu tỉnh Đồng Nai.
Người ta vẫn thường ví già như pho từ điển sống về đồng bào mình. Già có một nhà trưng bày đầy đủ công cụ của người Chơ Ro, nếu ai cần nghe già có thể kể thâu đêm suốt sáng những câu chuyện cổ tích, cũng như những tập tục riêng của đồng bào mình. Vì thế, nhiều năm nay những cơ quan, đơn vị muốn tìm hiểu tập tục của người Chơ Ro thì đều tìm đến tham vấn ý kiến của già.
Về chuyện kết hôn của người Chơ Ro là phải “hướng ngoại”, già bảo rằng không biết nguyên nhân từ đâu vì từ khi sinh ra và lớn lên ở trong rừng Lý Lịch thì đã có nguyên tắc bất di bất dịch như thế rồi. Do đó khi đến tuổi kết hôn, trai gái Chơ Ro thường phải tìm đến những bản làng khác để tìm “một nửa” của mình. Ngay chính vợ già là bà Hồng Thị Lịch bây giờ, ngày trước phải băng rừng vượt núi, vất vả lắm già mới “bắt về được”.
Theo như già Năm Nổi thì quan niệm cùng dòng họ của người Chơ Ro hoàn toàn không giống người Kinh. Về điều này già dẫn ra ví dụ cụ thể để chúng tôi dễ hình dung. Trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ, chúng thường đặt họ cho người Chơ Ro bằng những cái tên dễ gọi như: họ Thổ, họ Điểu, họ Hồng, họ Văn... để tiện bề quản lý.
Nhưng từ xa xưa thì họ của người Chơ Ro thường mang tên các con vật hoặc nơi sinh sống. Ví dụ như dòng họ Chơ Lưn theo nghĩa bản địa là cá sấu, khi trai gái thuộc dòng họ này đến duyên, họ sẽ hỏi nhau một câu đại loại như: “Có ăn thịt cá sấu không?” Nếu một trong hai người có ăn thì họ có thể quen được, còn ngược lại cả 2 đều kiêng thì họ sẽ không quen nhau nữa. Vì phàm là người mang họ cá sấu thì người ta kiêng ăn vật thiêng dòng họ mình tôn thờ.
Với lối suy nghĩ đơn giản, nhưng rất thiết thực “cùng họ thì kiêng, khác họ thì ưa” (cùng họ thì không ăn thịt cá sấu, và ngược lại), người Chơ Ro có thể lấy bất cứ ai mà không sợ trùng dòng họ mình, đó là cách chọn “một nửa” rất độc đáo của trai gái đồng bào Chơ Ro.
Theo già Năm Nổi thì đối với con gái Chơ Ro, hình mẫu lý tưởng về người đàn ông lấy làm chồng là phải khỏe mạnh, cần cù, giỏi trồng trọt, đi rừng sâu không lạc, săn bắn thú cự phách. Ngược lại, người phụ nữ hình mẫu của đàn ông Chơ Ro là chăm chỉ, năng trồng trọt, giỏi nội trợ, đối xử lễ phép với cha mẹ, họ hàng, làng xóm.
Con trai Chơ Ro chọn vợ thì nhìn vào cái bếp của nhà con gái có tươm tất, cái cuốc làm rẫy có mòn vẹt đi không. Con gái Chơ Ro lấy chồng phải nhìn vào cái ná (cung bắn tên), cái xà gạc (dao phát rừng), con dao côi (loại dao rất tiện của người Chơ Ro) của người con trai để biết họ có tài giỏi hay không.
Trai gái Chơ Ro trong một lễ hội truyền thống.
Người Chơ Ro theo chế độ mẫu hệ, vì vậy sau khi lấy nhau, họ sẽ về nhà con gái ở rể, chỉ mang theo cây ná, cái xà gạc và con dao côi từng gắn bó với mình để bắt đầu cuộc sống gia đình lớn. Nếu như người vợ chẳng may qua đời thì người chồng không được phép ở nhà vợ nữa mà phải trở về nhà mình. Nếu không chịu về thì nhà vợ có quyền đuổi người con rể này ra khỏi nhà. Và khi trở về cũng sẽ chỉ mang theo những thứ dụng cụ làm rẫy, săn bắn mà mình đã mang tới.
Người Chơ Ro không cho phép vợ chồng bỏ nhau, nhưng nếu một người mất thì người kia được phép đi lấy người khác. Chỉ có điều những năm trước đây, khi bộ tộc này còn sống khép kín giữa rừng sâu, một thanh niên Chơ Ro muốn tìm “một nửa” của mình cũng không hề đơn giản, huống chi là kết hôn lần thứ hai.
Nguyên tắc tối kị là cấm lấy người cùng dòng họ, một thời đã khiến nhiều nam nữ Chơ Ro điêu đứng. Bởi khi ấy bộ tộc này ở vùng Nam Cát Tiên mới chỉ là một nhóm người nhỏ, sống bên nhau dưới mấy chục nóc nhà hầu hết đều là người cùng dòng họ nên không thể lấy nhau. Ở trong chốn rừng sâu, không giao lưu với bên ngoài nên cũng không ai kết hôn với người khác bộ tộc, đó là khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ trước.
Nhắc về quá khứ “không muốn kể”, già làng Năm Nổi lại bồi hồi: “Hồi trước bản làng chúng tôi từng có nhiều người phải ở giá đến lúc chết vì không có ai để lấy”. Rít một hơi thuốc lá dài, già Năm kể cho tôi câu chuyện từng xảy ra ở bản.
Hồi năm 1940, có hai thanh niên là anh em cùng họ với nhau, nhưng vì lỡ phải lòng nên thề quyết đi đến chuyện vợ chồng, dù dòng họ hết lời khuyên nhủ thế nào cũng không đặng. Vậy nên hội đồng già làng trừng phạt họ bằng cách nấu cơm trộn với canh đổ vào máng heo cho hai người ăn, có trời chứng giám “tội” của hai người. Người Chơ Ro quan niệm rằng, nếu ai “đắc tội” thì trước sau sẽ bị trời đánh.
Tuy nhiên, hai người này vẫn sống và sinh con đẻ cái bình thường, sống bên nhau đến tận già nhưng trong sự dị nghị, cô lập của làng bản. Theo già Năm, từ xưa đến nay những cặp đôi dám vượt qua “lời nguyền” như vậy rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Những luật tục hà khắc
Khi người đồng họ lấy nhau, trong thời gian sinh sống nếu anh em, họ hàng liên quan xảy ra chuyện ốm đau, rủi ro... thì sẽ bị phạt rất nặng nề. Người ta cho rằng đã bị thần thánh quở trách nên phải nhờ bà Bóng, thầy Chang (thầy cúng, thầy bắt ma...) xem bói, làm phép tìm ra nguyên nhân. Nếu biết trong dòng họ có người lấy nhau thì các “thầy” này sẽ tham vấn cho hai bên gia đình liên quan, đưa ra hình thức trừng trị và hướng đến cho mỗi người một ngả, đi tìm “cơ hội” khác.
Buổi trừng phạt những trường hợp “đắc tội” này, già làng là người chủ trì và có mặt của hội đồng già làng cùng gia đình hai họ có con phạm lỗi tham gia. Họ chọn một bãi đất bằng phẳng, trói hai người lại và bắt quỳ trước một đống lửa đang cháy, rắc ớt vào để họ hít cho sặc sụa. Sau đó tiếp tục họ bị bắt ăn cám chung máng với một con heo, ăn bằng mồm chứ không được dùng tay. Người Chơ Ro coi lấy nhau cùng dòng họ thì cũng tựa như con lợn, con chũi nhơ nhớp dưới sàn nhà.
Khi hai người và con heo đang ăn, già làng dùng con dao sắc, cầm bằng tay không thuận chặt đôi con heo. Nếu con heo đứt làm hai nửa thì coi như hai người sẽ không còn tiếp tục quan hệ với nhau. Nếu hai nửa con heo không đứt hẳn thì người dân cho rằng, dẫu chia rẽ thì họ vẫn có thể dam díu với nhau. Vì vậy, hai người đó sẽ bị đuổi đi khỏi làng, mãi mãi không được quay trở về nữa.
Vợ chồng già Năm Nổi sống hạnh phúc khi không phạm luật tục của làng.
Những câu chuyện đậm chất luật tục mà Già Năm miên man kể với chúng tôi về một thời “chẳng thể tỏ cùng ai” mang nỗi buồn phảng phất. Không biết rừng già Mã Đà, dòng suối Sa Mách huyền thoại chốn này đã chứng kiến bao nhiêu người Chơ Ro phải sống một mình đến già và chết trong nỗi cô độc. Bao nhiêu trai gái Chơ Ro đã phải ngậm ngùi xa nhau vì không vượt nổi “lời nguyền” của luật tục, rồi những cặp trai gái phải xa bản, dắt díu nhau vào rừng sâu để bảo toàn tình yêu trước sự trừng phạt hà khắc của hội đồng già làng.
Những luật tục người Chơ Ro tự sinh ra và cũng tự thực hành trong nội bộ làng bản, bộ tộc của mình. Cho đến nay thì làn sóng giao thoa văn hóa giữa người Chơ Ro và các bộ tộc khác cùng văn hóa của người Kinh, thì những tục lệ có phần hà khắc và bó buộc này cũng dần mất đi.
Người Chơ Ro tiến dần ra khỏi rừng già, bỏ đi những gì lạc hậu cứng nhắc, tiếp cận những điều tiến bộ từ bên ngoài. Vì thế việc đi tìm “một nửa” của mình đối với trai gái Chơ Ro đã trở nên dễ dàng hơn. Người Chơ Ro lấy người Kinh và chung sống lẫn lộn rất hiền hòa. Và nay, thì “làng đơn độc” đã dần lùi vào ký ức, khi nói đến cũng là để nhớ, để nhắc nhở các thế hệ hậu sinh phải biết giữ gìn dòng họ, tôn trọng huyết thống của mình