Christian Lambertsen - nhà phát minh của OSS

Những quân nhân của Cục tình báo chiến lược (OSS) đã chế tạo nên nhiều thiết bị kỳ diệu cho nhu cầu sử dụng thời chiến: than phát nổ, mực tàng hình, các loại độc không vị, máy ảnh siêu nhỏ cùng những loại dao kỳ dị. Nhiều số trong đó đã được chế tạo sau khi Thế chiến II kết thúc và được tích hợp vào kho vũ khí quân sự.

Một trong những phát minh như thế đã được thiết kế bởi Tiến sĩ Christian Lambertsen mà ngày nay nó được biết đến bởi tên gọi SCUBA (bình dưỡng khí). Tiến sĩ Lambertsen là một sĩ quan của OSS nói riêng và quân đội Mỹ nói chung, ông đã kinh qua nghiên cứu về sinh lý học hô hấp tại trường y. Ông đã trực tiếp chịu trách nhiệm về phần lớn công nghệ được dùng trong các hoạt động bơi lội chiến đấu (CSO) của quân đội Mỹ.

Những phát minh của ông đã đặt nền móng cho công nghệ được dùng bởi NASA, Hải quân SEALs, lực lượng Mũ Nồi Xanh, lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ (USCG) và những người nhiệt thành với môn lặn trên toàn thế giới. Vì công lao này mà bác sĩ Lambertsen được tôn vinh là “Cha đẻ của người nhái” và “Cha đẻ của SCUBA Mỹ”. Tiến sĩ Christian Lambertsen - nhà phát minh, nhà môi trường, giáo sư, khoa học gia, cựu binh chiến đấu, giám đốc y khoa cũng như là nhà tiên phong trong y học hàng không không gian và dưới biển - là một trong những nhà phát minh OSS có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử.

Christian Lambertsen - nhà phát minh của OSS -0
Nhà sinh lý học người Anh, Henry Bazett.
Ảnh nguồn: LITFL.

Thiết bị thở dưới nước

Sinh tháng 5/1917, cậu bé Christian lớn lên gần vùng biển New Jersey. Nhận thức từ thuở đó là cậu muốn theo học y, cậu học Đại học Rutgers trước khi ghi danh theo học tại trường y của Đại học Pennsylvania. Christian thường nghỉ hè ở Jersey Shore, đó cũng là nơi mà cậu cùng những người em họ bắt đầu thử nghiệm với các thiết bị thở dưới nước. Họ sử dụng một hệ thống thô sơ bao gồm chiếc bơm xe đạp, một chiếc vòi, một chiếc túi và một mẩu bịt miệng. Sau khi mày mò tinh chỉnh thiết bị một cách cố gắng, Christian đã thông báo cho giáo sư sinh lý học của mình - Tiến sĩ Henry Bazett. Bị ấn tượng bởi nguyên mẫu và nhìn thấy tiềm năng thực sự, Tiến sĩ Bazett bắt đầu liên hệ với nhiều tổ chức khác nhau mà ông tin họ sẽ quan tâm tới phát minh của cậu sinh viên của mình. Chủ tịch của Công ty sản xuất và hóa chất Ohio đã trở nên bị mê hoặc và cung cấp cho chàng sinh viên Christian một công việc trả lương cao.

Ông muốn Christian dùng thiết bị gây mê của mình để chế ra cỗ máy thở dưới nước cho những mục đích cứu hộ. Christian nhận việc và bắt đầu thử nghiệm thiết bị của mình ở hồ Erie và hồ Nokomis. Trong một lần thí nghiệm nọ, lúc ở độ sâu 18m, mắt và chân của Christian bắt đầu co giật. Ông giật mạnh sợi dây an toàn, dấu hiệu cho thấy cần phải kéo ông lên mặt nước và thấy sợi chão rơi xuống đáy hồ. Christian và đồng nghiệp chưa từng cột chão vào thuyền. Nhưng may thay, Christian đã kịp bơi lên mặt nước và sống sót. Sau mùa hè đó, ông quay lại trường y, chiến tích của ông đã được phát sóng trên toàn quốc. GS Bazett đã công bố bản mô tả về thiết bị thở trên Thời báo Hiệp hội Y khoa Mỹ. 

Christian Lambertsen - nhà phát minh của OSS -0
 LARU (Đơn vị hô hấp lưỡng cư Lambertsen - một thiết bị thở độc lập dưới nước) của nhà phát minh Christian Lambertsen.
Ảnh nguồn: ResearchGate.

Dù được hình thành dưới nước nhưng buổi ban đầu Christian cho rằng thiết bị của mình có thể dùng trong lòng đất, cụ thể là những thợ mỏ bị mắc kẹt đang chờ được giải cứu. Tuy nhiên khi Thế chiến II bùng nổ, GS Bazett (cựu sĩ quan quân đội Anh) đã nhìn ra các ứng dụng quân sự của thiết bị thở này. Tháng 1/1941, Christian và GS Bazett đến Washington, D.C. để gặp Đơn vị lặn thử nghiệm hải quân (NEDU). Mặc dù mô tả thiết bị của họ không gây ấn tượng với hải quân, tuy nhiên hơn bao giờ hết, Christian đã bị thuyết phục rằng thiết bị của ông không thích hợp để cứu hộ quân sự, điều này có nghĩa rằng nó cần phải được đại tu khâu thiết kế và cần thử nghiệm nhiều hơn. Một năm sau, Christian quay lại Washington, D.C. để trình diễn thiết bị đã được tái cấu hình của mình. Lần này, với sự tham dự của các nhân vật quan trọng của Cục chiến dịch đặc biệt (SOE, Anh) và OSS. Christian đã nhảy xuống hồ bơi tại khách sạn Omni Shoreham để trình bày phát minh của mình. Christian đã tạo ra cái mà ông gọi là LARU (Đơn vị hô hấp lưỡng cư Lambertsen - một thiết bị thở độc lập dưới nước).

Hệ thống LARU chứa bộ lọc carbon dioxide cho phép thợ lặn được hít lại thứ không khí mới thở ra trong lúc đang ở dưới nước. Do cấu hình của thiết bị, nó không giải phóng ra bất kỳ bong bóng khí nào, không để lộ thứ gì đó nằm bên dưới. Những người đàn ông quan sát từ mặt nước bể bơi khi Christian đang bơi bên dưới và không có bằng chứng nào cho thấy ông đang ở dưới nước: không nổi lên bất kỳ bọt khí nào. Khả năng bơi dưới nước mà không bị phát giác đồng nghĩa là sự khác biệt giữa nhiệm vụ thất bại và thành công. Bằng cách dùng LARU, thợ lặn có thể bơi ở độ sâu 15m và duy trì dưới đó suốt hàng chục phút, cho phép anh ta có thể bơi xa cả hải lý. Phát minh của Christian cho thấy sự hoàn hảo cho các hoạt động mật. Trước khám phá của Christian, các thợ lặn quân sự phải đội những cái mũ bảo hiểm kim loại to lớn, gồ ghề và bức bối. Loại mũ bảo hiểm này cung cấp không khí từ một cái vòi gắn trên tàu / thuyền nổi, hạn chế nghiêm trọng bán kính mà họ có thể bơi.

Christian được phong quân hàm Thiếu úy Quân y, nơi ông đã phục vụ từ năm 1944 đến năm 1946. Lúc mới làm việc cho OSS, Christian đang học năm cuối trường y.

Christian Lambertsen - nhà phát minh của OSS -0
Nhà phát minh Christian Lambertsen trong một lần trình diễn máy thở dưới nước của mình. Ảnh nguồn: CIA.

Đơn vị xâm nhập đường biển của OSS

Cũng trong khoảng thời gian này, OSS đã thành lập ra Đơn vị hàng hải chuyên thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại dưới nước, xâm nhập điệp viên, tiếp tế cho các nhóm kháng chiến bằng đường biển. Họ cũng được giao nhiệm vụ phát triển các thiết bị và dụng cụ hàng hải chuyên biệt. OSS chỉ định Christian phát triển trang bị lặn, và ông đã vui vẻ nhận lời. Christian vẫn còn là sinh viên y khi dạy lớp đầu tiên của Các nhóm bơi hoạt động OSS (OSG) vào 5/1943 tại Học viện Hải quân ở Annapolis (tiểu bang Maryland). OSG từng được giao nhiệm vụ đào tạo về nhiệm vụ phá hoại tại vịnh Biscay cho sự kiện xâm lược D-Day, song nhiệm vụ của họ đã bị loại bỏ do thiếu nguồn lực. Nhóm OSG thứ hai được đào tạo ở Nassau (thủ đô của quốc đảo Bahamas) trước khi được triển khai đến Hawaii để phục vụ dưới trướng Đô đốc Chester Nimitz, tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Các OSG này đã tạo ra Những đội phá hủy dưới nước của Hải quân Mỹ (UDT) cách dùng thiết bị thở dưới nước, và làm thế nào để bơi bằng chân vịt. Tháng 6/1944, Christian quay lại Bahamas để dạy các nhóm OSG khác. Một ngày nọ, trong lúc mô tả thiết bị của mình, Christian bất tỉnh và chìm xuống. Cho rằng đó là một phần của bài học, các học viên không để ý cho tới khi họ nhận ra ông thầy đang gặp rắc rối. Họ tập trung giải cứu thầy - người quên làm sạch túi thở để ngăn ngừa tình trạng thiếu ô xy do pha loãng (một thực hành mà Christian liên tục lặp đi lặp lại cho các học viên của mình). Khi tỉnh lại, Christian lại nhảy xuống nước để tiếp tục bài dạy. Nhóm học viên đặc biệt này không chỉ học lặn mà còn thử nghiệm thiết bị được OSS chế tạo như đồng hồ và la bàn không thấm nước, một ván lướt sóng có động cơ bơm hơi, xuồng Kayak 2 người vận hành và những chiến thuật hoạt động để phá hủy và trinh sát đêm.

Sau khi hoàn tất, các học viên OSG phải trình bày khả năng của họ tại Căn cứ Hải quân vịnh Guantanamo (Cuba) trong tháng 9/1944. Cuộc tập trận quy mô này có tên là Chiến dịch Cincinnati, được thiết kế nhằm xem xét khả năng phòng thủ của hải quân, đánh giá hiệu quả khả năng của nhóm mới trong việc tiến hành các hoạt động trinh sát, thâm nhập và phá hoại bằng đường  biển. Đây là cuộc tập trận đầu tiên trong môi trường biển thực tế. Được trang bị la bàn chống thấm nước, đèn pin chống thấm nước, và chân vịt, các thợ lặn sẽ xâm nhập vịnh Guantanamo vào ban đêm. Họ dễ dàng vượt qua lưới ngư lôi giăng quanh bến cảng. Họ tiếp cận các mục tiêu, cài thuốc nổ, làm nổ tung một sà lan cũ. Một báo cáo tuyệt mật của chính phủ Mỹ ghi nhận thành công của nhiệm vụ là nhờ khả năng lặn không bị phát hiện bởi thiết bị phát hiện âm thanh của Hải quân Mỹ. Một thời gian ngắn sau đó, các OSG được tách ra và triển khai đến các chiến dịch ở Trung Quốc, Myanma, Ấn Độ… để tiến hành các nhiệm vụ xâm nhập và gián điệp dưới nước.

Một cỗ máy dưới nước khác mà Christian đã giúp chế tạo ra là ca nô lặn có động cơ mang biệt danh “Người đẹp ngủ trong rừng”. Chiếc ca nô được chế tạo bởi Cục chiến dịch đặc biệt (SOE, Anh) và chở theo 1 “người nhái” để tiến hành trinh sát mật hoặc tấn công tàu địch. Năm 1944, chiếc ca nô tuyệt mật được mang tới Mỹ, và Christian bắt đầu một chương trình nhằm đào tạo các học viên OSS cách vận hành nó. Thay vì điều hướng ca nô trực tiếp đến mục tiêu, ông dạy các học viên cách neo đậu nó cách mục tiêu vài trăm mét. Từ đó, người nhái sẽ bơi đến mục tiêu và đặt thuốc nổ, rồi lặng lẽ rút êm lên ca nô. Khái niệm này đã dọn đường cho phương tiện chở người bơi (được dùng bởi UDT và SEALs) nhiều năm sau đó.

Christian Lambertsen - nhà phát minh của OSS -0
Nhà phát minh máy thở dưới nước Christian Lambertsen. Ảnh nguồn: Army.mil .

“Cha đẻ của người nhái” và y học vũ trụ

Năm 1945, Tổng thống Truman ký lệnh giải tán OSS nhưng Christian vẫn là Đại úy của quân đội Mỹ. Khi quay lại Mỹ, ông được chỉ định làm việc ở một quân y viện. Vẫn tin rằng thiết bị của mình làm lợi cho quân đội, ông đã giải mật LARU-X và trao cho 2 nước Anh, Mỹ, mỗi nước 2 thiết bị này cho các lực lượng hải, lục, tuần duyên, cùng với những hướng dẫn chi tiết cách hoạt động. Nhận ra giá trị trong công tác cứu hộ và phục hồi trên biển, Tuần duyên Mỹ đã hạ lệnh cho Christian gấp rút đào tạo các huấn luyện viên về LARU. Lục quân bị ấn tượng với kiến thức chuyên môn sâu về sinh lý học hô hấp của Christian và đề nghị ông làm việc cho Quân đoàn công binh về công tác hậu cần cho các hoạt động trên sông. Năm 1946, Christian giải ngũ với quân hàm Thiếu tá. Ông đến Đại học Pennsylvania, nghiên cứu về sinh lý học của ô xy và độc tính của nó, và trở thành Giáo sư.

Năm 1947, Trung tá hải quân Douglas Fane đã liên hệ với Christian để được giúp đỡ trong việc cứu các UDT (Những đội phá hủy dưới nước của Hải quân Mỹ) khỏi bị xuất ngũ. Christian lên đường đến Norfolk (Virginia) để đào tạo các UDT trong những hoạt động bơi chiến đấu và lặn chiến thuật của OSS cùng với LARU và “Người đẹp ngủ trong rừng” (ca nô đặc biệt). Mặc dù bị giảm quân số nhưng các UDT không bị giải tán và trở thành tiền thân của Hải quân SEALs. Trong 2 thập niên 1950, 1960, Christian đã phát triển ra phiên bản tiên tiến của hệ thống thở dưới nước và được SEALs duy trì sử dụng đến thập niên 1980. Ông cũng giành phần lớn thời gian trong giai đoạn đó để nghiên cứu về y học dưới biển và y học cao áp (y học dùng ô xy ở mức độ lớn hơn áp suất khí quyển).

Nhà phát minh Christian Lambertsen sống những năm cuối đời ở bờ Đông của tiểu bang Maryland để nuôi gia súc, nuôi ong mật, và làm vườn. Những đóng góp của Christian đối với sinh lý học lặn, nghiên cứu dưới biển và y học cao áp, điều trị y học, khoa học thủy vũ trụ, khoa học y sinh, và khoa học môi trường… vẫn chưa có đối thủ. Ông tạ thế năm 2011, thọ 93 tuổi. Tro cốt của nhà phát minh được rải trong vùng nước sạch, ấm áp ở ngoài khơi Key West, Florida.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.