Xưa, "thuyền em ngược bến sông Dâu, buôn chè mạn Thái còn lâu mới về", gợi nhắc một vùng đất phù hoa, tấp nập xứ Kinh Bắc. Cùng với thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), ở hai bên bờ lưu thủy, thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã đi qua một thời vàng son, tráng lệ nhất cả nghìn năm Bắc thuộc.
Thì nay, vùng đất địa linh nhân kiệt ấy chỉ còn lại một vỏ ngoài phế tích, u tịch mà cỏ dại mọc um tùm, những vế thành bị cắt xén. Và con đường chính dẫn lối vào uy nghiêm thì ruồi muỗi bâu đầy, rác thải ngập ngụa, bàn ghế xếp ngổn ngang sau những buổi họp chợ tàn canh…
Từ di tích trở thành phế tích sau nửa thế kỷ
Trong nhiều thế kỷ trước và sau Công nguyên, Luy Lâu (hay còn có những tên gọi khác là Liên Lâu, Ly Lâu) là đô thị cổ, đô thị cảng trên sông Dâu trở thành nơi "tụ thủy", "tụ nhân" của tinh hoa và cá tính xứ Bắc - điều mà GS Sử học Trần Quốc Vượng từng nhận xét đó là điển hình của cá tính Việt Nam.
Với vai trò là một trong "tứ trấn" hết sức quan trọng của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, cùng với thành Cổ Loa, thủ phủ Luy Lâu trở thành kinh đô thứ hai của nước Việt cổ và tan chảy vào một thời kỳ lịch sử vàng son và tráng lệ bậc nhất của nước Việt ta. Vì những nét đặc biệt đó mà ngay từ năm 1964, thành cổ Luy Lâu được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Tuy nhiên, tất cả những vàng son ấy sau 2.000 năm giờ chỉ là phế tích hoang vu, tiêu điều và dột nát. Thành lũy, mộ táng, di chỉ cư trú, lò cổ… bị xâm hại, đào xới, trùm lấp do quá trình cư trú và xây dựng của nhân dân địa phương.
Tình hình đó làm cho nhiều di tích bị phá hoại dẫn đến hư nát, biến dạng, nhiều hiện vật bị xuất lộ và thất lạc. Trong khi đó, việc nghiên cứu khảo cổ học khu di tích Luy Lâu mới được tiến hành ở phạm vi rất hạn hẹp, nhiều di tích, di vật chưa được khai quật và nghiên cứu.
Thông thường ở tất cả các di tích được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, ngay ngoài trục đường chính đều có biển chỉ dẫn để hướng dẫn, giới thiệu cho khách thập phương biết. Tuy nhiên ở đây, chẳng có biển chỉ dẫn nào ngoài cái cổng chào mà nếu không để ý và cố tìm thì khó có thể thấy bởi những tòa nhà cao tầng, hàng quán và phông bạt che kín. Đã thế lại bị hai sạp thịt chắn ngang lối.
Còn con đường đất dẫn lối vào di tích càng đi càng hẹp lại từ 5m xuống còn hơn 1m, dài chừng 500m chưa được đổ bê tông hóa như các con đường làng hiện nay lại ngập ngụa rác thải, xương xẩu thịt, cá, đủ thứ trên trời dưới đất. Bàn ghế của các sạp bán thịt di động để hai bên đường ngổn ngang, ruồi muỗi bu kín mặt đất, mùi hôi hám bốc lên sau buổi họp chợ tàn canh. Ngày bình thường đã thế, chẳng biết những ngày họp chợ thì cảnh tượng khủng khiếp như thế nào?
Đến Phật cũng phải che áo mưa như người thường.
Chưa hết, đường vào đã lắm "chông gai" như thế nhưng khi bước chân vào trước cổng chính của thành là một vùng cỏ dại, xanh um, có cây cao cả mét khiến ta cảm thấy nơi đây giống "rừng nguyên sinh" hơn là một di tích. Đường mòn dẫn vào thành bị che khuất. Hoa cỏ được mùa mà di tích chìm sâu. Hồn người xưa u tịch, chẳng nói năng chi.
Bà Nguyễn Thị Bích, người dân của thôn Lũng Khê, xã Thanh Khương cho biết: "Việc họp chợ diễn ra ở đây từ hơn chục năm nay rồi. Chợ thường họp vào các ngày 2, 5, 7, 10 trong tháng. Một tháng 12 phiên, 10 ngày 4 phiên chợ. Chợ đông nên người ta bán hàng quán ra cả rìa đường. Thậm chí, trong ngày hội cũng không dẹp được người ta. Có hôm ôtô của khách thập phương về thăm thành cứ như đi vào mê cung, người của di tích đi ra nói mãi người ta mới khênh bàn thịt cho gọn để ôtô đi, ôtô đi xong rồi cảnh tượng lại y chang lúc nãy". Bà Bích còn nói thêm: "Cây cỏ ở đây nhẵng đi 1 - 2 tháng lại mọc đầy, người đâu mà dọn cho hết, chỉ sắp đến hội, có công việc gì ở chùa Tướng thì mới dọn dẹp chùa. Mà ở đây hẻo lánh lắm, thi thoảng mới có lác đác người về thăm".
Không chỉ bị bao phủ bởi rác và cỏ dại, diện tích thành bị xâm hại nghiêm trọng và biến dạng đi nhiều. Theo biên bản và bản đồ khoanh vùng đất đai bảo vệ di tích của Bảo tàng Bắc Ninh (lúc đó là Ban Quản lý di tích) phối hợp với Phòng thông tin huyện Thuận Thành, UBND xã Thanh Khương ghi ngày 24/12/1999 thì tổng diện tích thành cổ là 103.518m². Song khi chúng tôi hỏi, Phòng Địa chính xã Thanh Khương cho biết, thành cổ nay chỉ còn 77.000m². Vậy gần 30.000m² đã đi đâu, về đâu?
Anh Trần Quang, 40 tuổi tỏ vẻ tiếc nuối khi nhớ lại kí ức một thời đi học của mình: "Nhà tôi ngày trước ở gần đền Sỹ Nhiếp, mỗi lần đi học đều đi ngang qua một gò đất dài khoảng 800m. Bây giờ chỗ đó dân ở kín hết. Ngày xưa, mỗi lần đi học về, chiều mát, chúng tôi còn nằm trên bãi cỏ, rất đẹp, mát và thơ mộng. Bây giờ ở đó rác rưởi bừa bãi lắm".
Ông Nguyễn Văn Luận, phật tử của chùa Tướng - thuộc quần thể di tích còn cho biết: "Toàn bộ vế thành ở phía Nam này đã bị dân sát sườn thành đào bới, lấn chiếm để đóng gạch. Khi lên nói với Ủy ban, họ bảo sẽ giải quyết. Đến bây giờ, chẳng hiểu họ giải quyết đến đâu rồi?".
Và ngay trong chùa Tướng, thuộc quần thể di tích thành cổ, nơi thờ Phật tổ Như Lai, chân tay của Phật bị gãy vụn, có ông mất bàn tay, có ông đầu gối bị rã ra từng vụn. Chiều hôm chúng tôi đến trời mưa tầm tã, khi vào ban thờ của Phật tổ, Phật vẫn phải che áo mưa để tránh mưa như người thường!!! Và dưới chân, nước mưa dột xuống lênh láng rồi đọng lại thành vũng trong góc phải ban thờ.
Hai sạp thịt lợn án ngữ ngay cổng vào di tích.
Nói đi nói lại, cũng là vấn đề… kinh phí
Khi đem những vấn đề của Thành cổ Luy Lâu chất vấn, ông Nguyễn Duy Khoa, cán bộ văn hóa xã Thanh Khương, Phó ban Quản lý di tích trả lời: "Tất cả diện tích của thành vẫn được bảo tồn, chỉ có một bộ phận diện tích do năm 1992, có chủ trương chia ruộng lâu dài, lúc đó quản lý về mặt đất đai của di tích không được chặt chẽ nên có một số diện tích đất giao cho dân, phần còn lại giao cho dân bao thầu. Cũng có nhiều người quan tâm nhưng vào trong đó cũng chẳng có gì cả. Có cái gì đâu mà xem?".
Khi hỏi đến tình trạng của Phật che áo mưa, ông Khoa không hề biết có tình trạng này. Một lúc sau ông mới giải thích: "Phật đó làm bằng đất, không phải bằng gỗ. Chỉ có tượng bà Pháp Lôi mới làm bằng gỗ. Trước đây trong thời kỳ chiến tranh, các di tích, chùa chiền đều dùng để làm trường học, nhà kho… nên hư hại nhiều; sau này, các di tích mới được khôi phục và trùng tu. Chùa được trùng tu liên tục nên chắc chắn không có chuyện đó". Chẳng hiểu cái kiểu trùng tu liên tục mà ông Khoa nói ở đây là trùng tu như thế nào?
Ông Khoa còn nói thêm: "Mang tiếng là di tích cấp quốc gia nhưng đến đường vào cũng không có. Cái cổng và đường đi vào hiện tại lại do các Phật tử và người dân trong thôn đóng góp và xây dựng, không phải do Ủy ban xã chỉ đạo xây dựng. Dăm bảy năm trước nghe nói có dự án trùng tu nhưng thực tế không hề có". Tuy nhiên, ông Khoa không hề biết rằng UBND tỉnh Bắc Ninh vừa phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Trung tâm văn hóa Luy Lâu với tổng số vốn đầu tư hơn 172 tỷ đồng, do UBND huyện Thuận Thành làm chủ đầu tư.
Và nói cho cùng, vấn đề cốt lõi trong việc bảo vệ, trùng tu các công trình lịch sử, văn hóa của dân tộc hiện nay cuối cùng cũng chỉ quy về vấn đề… kinh phí. Từ ngày được công nhận là di tích quốc gia đến nay đã xấp xỉ nửa thế kỷ.
50 năm bỏ quên và lơ đễnh, chẳng làm gì. 50 năm, di tích chỉ còn lại một hoài niệm đẹp đẽ về thời kỳ vàng son nay đã xế chiều. Để giờ đây, chỉ còn một vỏ ngoài cỏ dại và mạng nhện thời gian chăng đầy, ruột đã bị mục ruỗng và đục khoét từ lâu lắm rồi thì các cấp mới quay sang ngóng chờ kinh phí để trùng tu, tôn tạo.
Chúng ta làm được điều gì khi toàn bộ hương thơm của thời kỳ đầy yêu dấu cũ ấy đã biến mất? Và biết đến bao giờ, câu chuyện ứng xử có văn hóa với các di tích lịch sử, văn hóa mới kết thúc?
| Về Thành cổ Luy Lâu, GS Sử học Lê Văn Lan nói: "Tất cả những gì đẹp đẽ đó, sau 2.000 - 3.000 năm dồn lại chỉ còn vài di tích lơ thơ trên mặt đất, mấy vòng tường, thành bằng đất, mấy đoạn hào nước để bảo vệ làm nên căn cứ quân sự chính là dòng sông Dâu bây giờ đã cạn nước, một vài nền nhà, nền tường còn sót lại ở trong tòa thành. Nhưng mà một vài sót lại ấy luôn luôn cất lên tiếng nói hùng hồn của nó, rằng đây là chứng tích cuối cùng còn sót lại của cả vùng đất địa linh nhân kiệt quan trọng của nước Việt. Từ câu chuyện này, ta suy ra sự ứng xử với hệ thống di tích nói chung mà chúng ta được thừa hưởng qua các thời kì lịch sử đều ghi nhận được những thực trạng trên bề nổi không giống nhau. Và các di sản, di tích đang hứng chịu đủ thứ điệp trùng quản lý và đủ thứ trào lưu ngoại lai, gốc gác, đủ thứ tư tưởng từ xấu đến tốt... thì bây giờ đang nhân danh hội nhập mà thỏa sức tung hoành". |