Gió heo may cuối thu chớm lạnh, nhưng khi nghĩ về những nhân vật mình sắp tìm đến lòng tôi ấm lên niềm vui khó tả. Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình đây rồi, con đường làng bó bê tông như rải thảm là dấu hiệu của làng quê này đang đổi mới từng ngày.
Ở ngôi làng chang chang cồn cát này có 3 người thật đặc biệt, và tôi dám cá rằng: trái đất chúng ta đang sống dù có rộng lớn bao nhiêu cũng chẳng có mấy ai như 3 người đàn ông mà tôi gặp sau đây. Ba người đàn ông của Quảng Xuân đều bị mù loà đôi mắt, song những việc họ đang làm lại thật khó tưởng tượng nổi.
Quái kiệt mù trên biển
Năm vào học lớp 3 trường làng thì Lê Văn Hân bị đau mắt đỏ. Căn bệnh tưởng như đơn giản đó đã làm đôi mắt cậu bé Hân mờ dần rồi mù hẳn. Đang học khá nhất lớp, cậu bé phải nghỉ học trong sự tiếc nuối của thầy cô, bạn bè. Hàng ngày nghe tiếng bạn bè i a gọi nhau đến trường học chữ, Hân buồn bã và suy nghĩ lung lắm. Từ cậu bé hiếu động Hân trở nên lầm lì ít nói, khi ba mẹ, bạn bè gặng hỏi cậu trả lời: "Hận lắm", mới lớp 3 trường làng nhưng cậu đã hận căn bệnh mắt đỏ cướp đi đôi mắt của cậu. Từ đó chỉ khi ai gọi Lê Hận cậu mới chịu trả lời. Cái tên Lê Hận đã theo cuộc đời lão ngư đến nay đã gần 70 tuổi.
Đến tuổi sắp trưởng thành, nghe tiếng lao xao của người làng đi biển đánh cá, Lê Hận thường mon men ra bờ biển nghe ngóng rồi xin đi biển. Mọi người nhìn Hận với ánh mắt thương cảm, người lành lặn đi biển chẳng ăn ai, bị mù như Hận thì ra biển làm nên công cán gì. Sau nhiều lần nài nỉ, Hận cũng được một ngư phủ là bà con trong làng cho đi theo để nhặt rau, giữ đá lạnh trên tàu.
Lần đầu tiên ra biển, ông chỉ có ngồi tựa mạn thuyền mà nôn thốc vì say sóng, rồi tập ngồi cho vững, ông lần hồi tập đi lại, đón hướng gió bằng tai, thả lưới, gỡ cá và dạn dần với sóng gió. Nỗi đam mê cháy khát trong lòng ông như tạo sức mạnh. Chuyến thứ hai đã đi lại được và chuyến thứ ba thì ông đã tự thả lưới, gỡ cá như một ngư phủ thực thụ. Bưng rổ cá được chia từ chuyến đi khơi đầu tiên ông cứ thần cả người: "Rứa là mình không ăn bám bố mẹ rồi. Có nguồn hy vọng sống tốt rồi..." ông cứ lẩm bẩm như vậy trên đường từ bãi biển về đến nhà.
Sau đó, những chuyến đi chính thức trên biển, ông được chủ thuyền phân công ngồi vị trí cố định làm việc bủa trì, kéo trì, gỡ cá. Ai trên thuyền cũng thừa nhận do ông tập trung thính giác và độ nhạy nơi hai bàn tay, lâu thành quen nên gỡ cá còn nhanh hơn cả anh em sáng mắt. Năm tháng qua đi, ông tích luỹ cho mình được khá nhiều kinh nghiệm. Đôi tai của ông và cái mũi biết được lúc nào là con nước ròng, con nước nào có cá chạy, hay biết được động tĩnh của biển để kêu anh em.
Nhiều ngư phủ ở làng biển Xuân Hoà không giấu nổi thán phục khi nói về Hận: Lên thuyền là ông Hận rành rẽ hết mọi công việc đánh cá trên tàu như buông neo, thả, kéo lưới, lấy neo. Đường đi lối lại trên tàu như xuống khoang máy, tới trụ tời, cột buộc dây lưới... ông thuộc hết. Anh em hô cần cái chi là ông làm tuốt. Thêm nữa, ông còn có biệt tài ngóng gió để đoán thời tiết trên biển...Thấy Lê Hận mù nhưng giỏi giang lại hiền lành nên cô Long làng bên ưng thuận, họ nên vợ nên chồng. Giờ đây vợ chồng già sum vầy bên 5 đứa con và cả hơn chục cháu nội ngoại đều khoẻ mạnh, phúc hậu chí thú làm ăn.
Huynh đệ của cả ngàn ngư phủ
Nếu Lê Hận mù mà vẫn đan lưới, vào khơi ra lộng tung hoành trên biển, thì Nguyễn Văn Mỵ lại ở nhà nhưng luôn nối liên lạc với hàng ngàn ngư phủ giữa biển khơi. Mới bước qua tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh", lại luôn phải đối mặt với cuộc sống trong bóng tối, nhưng Nguyễn Văn Mỵ luôn gây ngạc nhiên cho người ngồi đối diện bởi những câu chuyện lý thú về đời sống nhân gian. Ánh sáng mà thượng đế ban cho anh đồng thời lấy đi khi Mỵ mới biết cắp sách tới trường làng Quảng Xuân học chữ.
Đến tuổi trưởng thành, khi bạn bè xung quanh nhiều người đã yên bề gia thất, còn Mỵ đêm đêm vẫn chỉ biết làm bạn với tiếng đàn ghi ta bập bùng tự học. Mỵ nghĩ đời mình hỏng, song trái tim yêu vẫn đập lên mãnh liệt khi nghe những tiếng thỏ thẻ của thiếu nữ quê mình...
Hàng ngày Nguyễn Văn Mỵ vẫn túc trực bên bộ đàm gia đình để hướng dẫn ngư dân trên biển.
Cảm mến tính cách hiền hoà và đồng điệu trước tiếng đàn của Mỵ, chị Nguyễn Thị Hoa làng bên nắm chặt tay anh chung lời hẹn ước. Họ nên vợ nên chồng. Hơn hai mươi năm chung sống vợ chồng, Mỵ và Hoa có năm đứa con. Thật buồn, khi qua những lời tâm sự của con, Nguyễn Văn Mỵ mới biết 3 đứa con của anh cũng bị mờ mắt dần giống như anh gặp phải trong tuổi thơ. Biết làm răng, nước mắt mờ đục vẫn thường lăn dài trên má anh. Kinh Báo ân có viết "...Trong mười tháng mang thai, mẹ hiền thật cùng cực khổ sở...Nên sinh được thân này là phước đức lắm vậy...".
Hai vợ chồng nghèo quần quả nuôi con. Bị mù không thể ra khơi với đám trai tráng người làng anh buồn là một nhẽ, mỗi khi nghe tin một người làng gặp nạn trên biển, anh đều lọ dọ đến nhà thăm ngư phủ phận bạc. Mỗi lần như vậy, người làng thường thấy anh ngồi im trầm tịch, cô liêu. Qua nghe đài, Nguyễn Văn Mỵ biết ở Đà Nẵng và nhiều tỉnh miền trong ngư dân đi biển thường có bộ đàm đặt ở nhà để liên lạc khi gặp mưa, bão hay sự cố tàu hỏng hóc trên biển.
"Làng Xuân Hoà mà có cái rứa thì ngon mạ hắn hỉ, tui khi mô cũng nghe dự báo thời tiết, nghe tin biển động cứ muốn mần răng mà nói cho bà con trên biển biết để tránh...". Đêm nằm Mỵ tâm sự với vợ vậy. "Hay là nhà ta mua một bộ, anh ở nhà rồi liên lạc với bà con, trước đến giừ bà con giúp nhà mình nhiều nhưng mình giúp được chi mô". Hai vợ chồng thống nhất vay được hai triệu từ tiền xoá đói giảm nghèo của ngân hàng cộng với vay mướn trong làng được gần 5 triệu đồng để mua máy liên lạc.
Ngày Mỵ nhờ người đi mua máy về và nói rõ mục đích của mình, nhiều người nhìn anh ái ngại, biết là anh có tâm đó nhưng mù loà, bệnh tật "mần răng mà mần". Ngày đầu tiên máy bộ đàm của anh Nguyễn Văn Mỵ bắt được tín hiệu của một tàu ngư phủ trong làng đang đánh bắt cách đất liền hàng trăm km, lúc đầu chỉ có vài người rồi hàng chục người, cả nhà anh chật ních người làng đến nghe chuyện của người làng mình đang trên biển nói chuyện với Mỵ mù. Không ai bảo ai, mọi người đều nhờ Mỵ nối kết tổng đài của Mỵ với tàu nhà mình và thống nhất đặt tên cho tổng đài của Nguyễn Văn Mỵ là "Biển gọi" và để sóng cố định ở tần số B40.
Đó là một sự kiện lớn trong lịch sử làng Xuân Hoà mà người làng vẫn kể cho nhau nghe. Từ đài liên lạc của Nguyễn Văn Mỵ, rất nhiều ngư dân đã được cứu sống trong gang tấc khi đối mặt với thuỷ thần. Anh Võ Quang một ngư dân trong thôn vẫn thầm cảm ơn Mỵ. Khi đang đánh bắt trên biển, bất ngờ gặp gió lốc, anh Võ Quang liên lạc với Nguyễn Văn Mỵ nhưng chỉ kịp nói hai tiếng "thuyền chìm". Nghe vậy Nguyễn Văn Mỵ đã liên lạc với hai tàu ở gần đó do anh Nguyễn Hoà và Nguyễn Văn Tin điều khiển đã ứng cứu kịp thời 7 ngư dân trên tàu. Ngày về đất liền những người thoát nạn đã đến nhà anh ngồi khóc và cảm phục nhờ anh cứu sinh.
Giờ đây, máy liên lạc của Nguyễn Văn Mỵ không chỉ gói gọn liên lạc với bà con ở Xuân Hoà mà rất nhiều tàu, thuyền ngư dân ở miền Trung vẫn coi máy bộ đàm của anh là kênh thông tin chính nối họ với đất liền. Nhiều ngư dân gặp đau ốm trên biển cũng nhờ anh gọi người thân mời bác sĩ đến tư vấn cho họ cách dùng thuốc. Nhiều thiếu nữ có người yêu đi biển qua máy bộ đàm của anh cũng giúp họ thêm lửa tình yêu....
Ở đất liền anh Nguyễn Văn Mỵ vẫn thường xuyên nghe dự báo thời tiết để báo lại cho các tàu đánh bắt trên biển. Đồng thời thông tin đánh bắt trên biển như cá được khoảng bao nhiêu, loại cá gì...ngư dân lại báo cho anh để anh báo lại cho bà con trên đất liền biết ngày tàu về vào lạch Roòn nhận hàng đem đi tiêu thụ. Từ đó máy bộ đàm của anh trở thành kênh thông tin hai chiều đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho ngư phủ vùng cát trắng.
Chúng tôi xin trích thư của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi cho anh Nguyễn Văn Mỵ để chúng ta hiểu rõ hơn về những việc làm âm thầm, cao thượng của anh: "Một người không may bị mù từ nhỏ, gia đình rất nghèo khổ, đã có sáng kiến dùng máy bộ đàm để thông tin về thời tiết, tình hình đánh cá và sức khoẻ ngư dân giữa các thuyền ngoài khơi và gia đình trong đất liền... bằng thông tin miễn phí của mình...Việc làm của anh đã trở thành nhịp cầu nối giữa những người đi biển với nhau và với người trong đất liền, góp phần hạn chế rủi ro, tai họa, giúp cho đời sống và thu nhập của người dân làng chài được thay đổi từng ngày".
Chia tay anh Nguyễn Văn Mỵ, tôi nhớ mãi lời trong trẻo của một thiếu nữ có người yêu đang đánh bắt cá trên biển. "Nhờ có đài anh Mỵ mà con gái tụi em đỡ lo khi nghe câu ca: Chồng nghèo nghề ruộng em theo/ Chồng giàu nghề biển hồn treo cột buồm".
Mù vẫn trồng cả triệu cây rừng
Rời nhà anh Nguyễn Văn Mỵ, chúng tôi tìm đến nhà anh Võ Văn Bế, một người mù ở thôn Thanh Lương, xã Quảng Xuân. Không như anh Mỵ, anh Hận, anh Bế bị mù bẩm sinh khi mới làm quen chậu nước sành của bà đỡ. Nhà 5 anh em, Bế là con thứ hai của gia đình. Khi các anh em trong gia đình lần lượt dựng vợ gả chồng ra ở riêng, Võ Văn Bế vẫn hàng ngày lụi cụi bên người mẹ già tảo tần. Mình mù nhưng còn có đôi bàn tay, có sức khoẻ, không thể mãi ăn bám mẹ già, Bế nghĩ vậy. Nhưng làm gì? Chỉ 3 từ đó thôi làm Võ Văn Bế suy nghĩ suốt 1 năm trời.
Võ Văn Bế trồng cả triệu cây rừng.
Vì nghĩ nhiều, mái tóc anh còn đen bỗng ngả sang màu bạc. Sinh ra đáng nam nhi phải làm được 1 trong 3 việc, nghĩ vậy và Bế quyết định lấy vợ, sinh con. Sau nhiều lần bảo vợ tìm cho mình một khu vực đất rộng đồi cát, đất cằn để lập nghiệp, vợ hỏi để làm chi? Bế chỉ cười, không nói. Năm 1995, khi đứa con trai đầu lòng thôi nôi, Bế bàn với vợ xin ra đồi cát trắng Thanh Lương dựng lều ở riêng. Sống giữa không gian mênh mông không một bóng người chỉ toàn cát và đất cằn sỏi đá, nhiều lần vợ ấm ức hỏi bắt đầu từ đâu, Võ Văn Bế bảo vợ đi mua hàng trăm cây giống bạch đàn, keo lai về để anh trồng rừng.
Vợ lắc đầu, nhưng Bế động viên mãi nên đành chịu. Công việc trồng cây của anh bắt đầu bằng những cú bổ nháo bổ nhào trên đồi cát. Nhưng quyết tâm, Bế bảo vợ lấy dây giăng thành lối để anh trồng thử nghiệm hàng đầu tiên. Ngày đầu trồng xong hàng thứ nhất, vợ chán việc bỏ đi làm đồng. Chiều về, chị bất ngờ khi một khoảng rộng mênh mông cát trước nhà đã mọc đầy cây xanh do Bế trồng. Vợ không biết, sau khi có hàng cây thứ nhất, Võ Văn Bế lần mò gang tay đo đếm khoảng cách, rồi đào hố trồng tiếp.
Cứ thế sau gần một tháng trời anh đã phủ xanh vùng cát nhà mình bằng cả ngàn cây giống bạch đàn, keo lai. Suốt 10 năm trời, vợ chuyên lo chuyện đồng áng, con cái học hành còn Bế chú tâm việc trồng rừng. Nhiều hôm khi màn đêm đã xuống, sương rơi ướt áo, nhưng Võ Văn Bế vẫn cặm cụi bên gốc cây trồng. Sáng sớm khi trời còn bao phủ ánh đêm, anh đã xách cuốc lần mò ra đồi cát thực hiện công việc của mình.
Như con ong cần mẫn xây tổ, sau 15 năm cặm cụi trồng rừng, làm vườn, Võ Văn Bế đã trồng được cả triệu cây rừng, khu vườn rộng mênh mông đủ các loại rau sạch, mùa nào rau ấy. Không những thoát nghèo, nuôi con cái ăn học đàng hoàng, Võ Văn Bế còn xây được nhà to nhất nhì làng nhờ vào trồng rừng và làm vườn. Rừng cây của Võ Văn Bế đã phủ xanh che cát chắn gió cho cả một góc làng