Tự nguyện đầy trách nhiệm
Nghe danh “bố Hợi”, chúng tôi tìm về huyện miền núi Quan Sơn giáp ranh với nước bạn Lào. Đến Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Na Mèo, đặt vấn đề đi thăm “bố Hợi” chúng tôi được đồng ý ngay. Bình thường nếu không có giấy giới thiệu từ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi có thể bị từ chối không được tiếp. Cũng may đồng chí Phó Đồn trưởng nghiệp vụ Lê Khắc Hiệu đã linh động cho chúng tôi, bởi viết về “bố Hợi” thì không vấn đề gì. Cũng cần nói thêm, “bố Hợi” là cách gọi thân mật của các chiến sĩ Biên phòng dành cho ông. Biết chúng tôi đã lặn lội gần hai trăm cây số từ Thọ Xuân lên đây, nên dù giữa cái nắng như thiêu miền biên giới, chiến sĩ Biên phòng Vi Văn Thuyền vẫn sẵn sàng đưa chúng tôi đi.
Từ Đồn Biên phòng đến nhà “bố Hợi” khoảng 15 km nhưng mất gần chục cây số gập ghềnh lô nhô sỏi đá từ trung tâm xã để đến bản Cha Khót. Dù đã được cảnh báo trước nhưng chúng tôi cũng khó mà chuẩn bị được “tay lái lụa” để leo dốc đá. Từng hòn đá hộc, sỏi cuội to như quả bóng ngả ngớn trên đường. Nếu ai đã từng ngồi trên con ngựa bất kham sẽ thấu hiểu được chúng tôi khi phải lồm cồm trên chiếc xe “bò” số 1 lên dốc. Chúng tôi không thể điều khiển xe theo ý mình mà phải “đánh võng” để lựa theo những hòn đá. Có lúc không thể lựa được khiến chiếc xe đổ chổng kềnh. Nhìn sang bên kia đường là bờ vực khiến chúng tôi được phen hú vía.
Lên dốc đã vậy, xuống, qua suối cũng chẳng kém phần khó khăn, nguy hiểm. Vậy mà nghe nói “bố Hợi” vẫn thường đi trên cung đường đầy khó khăn ấy để ra Đồn Biên phòng để báo cáo mỗi khi vùng cột mốc có vấn đề. Chiến sĩ Vi Văn Thuyền tâm sự với chúng tôi: “Bố Hợi tốt lắm! Có dấu hiệu bất thường gì là báo ngay cho Biên phòng, không kể nắng mưa vất vả”.
Tôi cứ hình dung chắc ông phải là người vạm vỡ to khỏe lắm thì mới có sức mà băng rừng lội suối mấy chục năm để trông cột mốc. Cuối cùng ngôi nhà sàn của ông cũng hiện ra giữa bạt ngàn rừng núi. Ngôi nhà sàn nằm cách xa hẳn các ngôi nhà của bản Cha Khót. Các con đều đã ở riêng nên chỉ có hai vợ chồng ông ở đây nhận khoán cả chục ha rừng của lâm trường. Khác như tôi nghĩ, trông ông hơi mảnh khảnh. Nhưng dáng vẻ rất nhanh nhẹn, mạnh mẽ khi ông chuẩn bị nước mời chúng tôi. Trong ngôi nhà sàn tuềnh toàng nhìn thấu trời xanh qua mái nhà, giọng ông sang sảng đầy hồ hởi, và điệu cười giòn tan khi chuyện trò với chúng tôi. Chẳng nghĩ đó là ông lão gần 70 tuổi.
Ông bảo: “Mình không phải quê ở đây nhưng rất hiểu và biết rõ từng ngọn núi, con suối vùng biên giới này. Ngày nhỏ tôi phải theo gia đình chạy giặc Pháp từ huyện Lang Chánh, cách hơn trăm cây số lên đây. Năm 1967, tôi đi bộ đội thuộc tiểu đội trinh sát, cho đến 1/1973 thì được xuất ngũ. Khi những cán bộ muốn có những người vào vùng giáp ranh biên giới (là bản Cha Khót bây giờ) sống để bảo vệ đất đai, tôi xung phong đi luôn”.
Ông lại cười rất tươi như để khẳng định đây là niềm vui thú: “Ngày ấy, nơi đây còn rậm rạp, âm u lắm. Nhưng có lẽ vốn là lính trinh sát nên tôi cứ thích đi khắp khu vực, dần dà tôi thông thuộc địa hình. Đến khi cắm cột mốc H3 năm 1978, đến năm 2011 thì được xây lại và mang số hiệu 331, tôi là người cùng tham gia. Ngày ấy phải dùng ngựa mới cõng được vật liệu lên để xây. Rồi Đồn Biên phòng nhờ trông coi cột mốc, cũng là trông coi vùng biên giới, tôi nghĩ đó cũng là trách nhiệm, nhiệm vụ của mình. Mình là người lính mà”. Nói rồi ông lại cười rất tự nhiên như để khẳng định đó là niềm vui của mình.
Như một phần cuộc đời
Khi chúng tôi ngỏ ý bảo “bố Hợi” đưa lên cột mốc, “bố” bảo luôn: “Đường đi khó lắm đấy, khó hơn đoạn đường các anh vừa vào đây, có quyết đi không?”. Nghe hơi chùn nhưng chúng tôi vẫn bảo quyết đi. Nếu đi bộ thì mất nửa ngày cả đi lẫn về nên chúng tôi bảo đi xe máy để còn kịp thời gian về xuôi. Ông bảo: “Trời nắng này thì đi xe máy được, chứ nếu mưa thì đi bộ còn khó. Mới đây còn có đường chứ ngày xưa phải phát cây, phát cỏ mà đi và phải qua mấy lần suối. Có lần tôi đến nơi thì gặp mưa, mà mưa rừng khiến nước suối dâng rất nhanh nên khi trở về, phải rất khó khăn và mạo hiểm để lội qua con suối nước lũ; nếu sơ suất là có thể bị lũ cuốn đi ngay. Đấy là chưa kể nếu bị rắn rết, côn trùng cắn cũng rất nguy hiểm”. Nói rồi ông đi chuẩn bị dao và bảo chúng tôi kiểm tra xăng xe để lên đường.
Có theo ông đến cột mốc mới thấu hiểu phần nào nỗi khó nhọc của ông. Dốc đá lởm chởm, nhiều chỗ toàn đất đỏ, xe đi số 1 mà nhiều khi vẫn phải có người đẩy mới lên được. Nhìn bên vách đá, bên vực sâu, chúng tôi đều thấy ớn lạnh. Giữa mênh mông rừng núi, nhỡ xe có hỏng thì chỉ có bỏ đó mà về. Những lúc qua suối, nếu nước vơi thì đi được, không thì chỉ có bỏ xe mà lội qua. Vì thế mà ông thường đi bộ lên cột mốc, vừa chủ động, an toàn lại đỡ tốn tiền xăng.
Đến nơi, “bố Hợi” leo phăm phăm từ chân núi lên cột mốc khiến chúng tôi theo không kịp. Ông đi vòng quanh kiểm tra xem cột mốc có bị phá hoại, hư hỏng gì không. Sau đó ông quét dọn, phát quang cây cối xung quanh để không che khuất cột mốc. Quan sát ông ngắm nghía cột mốc cứ như đang nhìn một người bạn, người thân lâu ngày không gặp, chúng tôi thầm cảm phục và phần nào hiểu vì sao ông lại tình nguyện trông cột mốc suốt bao năm.
Điều quan trọng hơn ngoài công việc trông cột mốc là ông luôn phải làm công tác dân vận, để bà con vùng biên giới hai nước hiểu và không vi phạm chủ quyền của nhau. Nhiều lần thấy bản người Lào sang cả đất ta để đốt nương làm rẫy, ông lại tìm cách nói rõ cho họ hiểu. Không phải chỉ nói một lần là họ hiểu, mà nói được cho người này rồi, người khác lại vi phạm. Muốn họ hiểu, ông phải lân la sang tận bản của họ. Ông bảo: “Mình là người Thái nên phải tìm hiểu để biết tập tục của người Mông bên ấy mới thuyết phục được”.
Nhiều lần ông bỏ tiền ra mua bộ ấm chén, hay ít muối ít đường để làm quà biếu trưởng bản bên ấy. Bây giờ thì ông đã quá quen với những người bạn Lào. Thảo nào mà khi ở cột mốc xuống, thấy ông nói chuyện rất thân mật với một người dân tộc vừa đi rừng về. Cứ tưởng đó là người cùng bản ông, hóa ra đó lại là người Mông của nước bạn Lào. Chả thế mà nếu có ai đó đốt rẫy sang đất của ta, khi ông nhắc thì họ lại cười: “Xin lỗi nhé, không biết mà”.
Được biết ông Hợi là người rất có uy tín trong bản. Nhiều năm liền làm trưởng bản, giờ đang giữ chức bí thư, ông là “già làng” được nhiều người yêu mến ở bản Cha Khót, vốn là người tứ xứ lên đây ở. Cứ tưởng ông trông cột mốc thì sẽ có những phụ cấp như đi lại, xăng xe... nhưng hóa ra ông không có chế độ gì, thậm chí bộ quần áo, đôi giày, dép cũng không được. Có chăng thỉnh thoảng anh em Biên phòng biếu “bố” ít quà, hay dịp tết cũng có quà của xã và bên Bộ Tư lệnh Biên phòng tỉnh.
Có người còn nói: “Ông trông cột mốc mà cũng chỉ như tôi, có khi không bằng”. Nhưng ông bảo: “Mình trông vì cái tâm, vì trách nhiệm chứ đâu cần cái gì”. Và cứ mỗi khi rỗi rãi, ông lại cuốc bộ lên thăm cột mốc, vừa để kiểm tra, vừa để cho đỡ nhớ. Ông bảo: “Chỉ khi sức yếu mới nghỉ, vì với 35 năm gắn bó, cột mốc như một phần cuộc đời rồi”