Cuốn lịch và quyền lực của triều đình
Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.
Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.
Thời phong kiến, hình luật ngoài quy định 5 mức hình phạt (tức “ngũ hình”, gồm xuy - đánh roi, trượng - đánh gậy, đồ - lao động khổ sai, lưu - đi đày và án tử), còn có thêm các hình phạt bổ sung, như phạt tiền, bắt đền bù cho người bị hại, bãi chức, giáng chức với người có chức vụ, tịch thu tài sản và sung vợ con làm nô tì của nhà nước hay nhà quan.
Thời phong kiến, việc bảo vệ an ninh cho nhà vua và hoàng gia được thực hiện nghiêm ngặt, các cổng thành, cổng cung đều luôn có lính túc vệ canh giữ, ai ra vào phải có lệnh bài.
Ở nước ta thời phong kiến, để đảm bảo an ninh và chống thất thu thuế, triều đình thường có chính sách quản lý chặt chẽ hoạt động ngoại thương. Các hành vi buôn lậu bị trừng phạt rất nặng.
Thời phong kiến, pháp luật xử nặng tội cướp, kẻ phạm tội thường bị chém đầu để làm gương cho dân chúng.
Thời phong kiến, đất đai trong nước không chỗ nào không của nhà vua, vua muốn đến đâu cũng được. Nhưng, hiếm có vị vua nước Việt nào ngao du nhiều như Vua Lý Cao Tông, "Đại Việt sử ký toàn thư" từng viết: "Vua ngự đi khắp núi sông"…