Thầm lặng nghiệp nhà binh

Đó là cái nghề mà ai dấn thân vào là phải chấp nhận sự cách xa, thầm lặng cống hiến, thầm lặng hy sinh, thầm lặng đóng bất cứ "vai diễn" nào mà theo khái niệm nghề nghiệp gọi là "bình phong - chức nghiệp"; miễn là "vai diễn" đó giúp họ hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà tổ chức giao phó mà vẫn giữ được an toàn cho mình, bí mật cho tổ chức, dù sống ngay trong sào huyệt của địch.

Bởi thế, họ được phép khoác cho mình nhiều thứ giả: Tên giả (bí danh, bí số), tuổi giả, quê hương bản quán cũng giả nốt. Chỉ có tâm hồn, trái tim, khối óc của họ để tạo nên con người cách mạng chân chính là thật, một trăm phần trăm là thật, ấy là nghề tình báo của giai cấp vô sản.

Tôi được biết và quen ông hơi bị lâu. Từ thời kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó ông đã là Phó Cục trưởng Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (tên ngụy trang, thực ra đó là Cục II, nay là Tổng cục II, Bộ Quốc phòng). Năm 1965, tôi trở thành lính của ông. Được đưa về Hà Nội dự lớp huấn luyện nghiệp vụ để bổ sung cho một Cụm tình báo chiến lược ở chiến trường miền Nam. Thời gian ở Hà Nội, tôi chỉ được gặp ông nhõn 2 lần. Lần đầu là hôm tập trung đoàn ở Trạm 66 (số 1 Hoàng Diệu - Hà Nội).

Và lần thứ 2 là hôm ông đến để tiễn đoàn vô Nam. Cũng ở Trạm 66. Dẫu chỉ 2 lần ngắn ngủi ấy thôi, ông đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng, kể cả những băn khoăn, thắc mắc. Tỷ như tên gọi của ông. Bậc đàn anh trong đoàn đã biết ông từ trước, người thì gọi ông là anh Tư, người lại kêu là anh Văn, người khác lại gọi là anh Như… Lạ, người sao mà lắm tên thế! Với tôi, thôi thì cứ cái tên "thủ trưởng" mà gọi, mà xưng hô cho "nhất cử lưỡng tiện". Chưa hết, năm 1967, tôi đang ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, nghe mấy ông lãnh đạo cụm hội ý: "Anh Tư Hiệp được phân công phụ trách tình báo miền Nam. Vừa từ Hà Nội vào - đi đường bay Phnôm Pênh. Theo lịch cấp trên thông báo, anh Tư Hiệp sẽ về kiểm tra công tác cụm ta”. Gặp ông, tôi ớ người ra. Thì vẫn là ông thủ trưởng hôm nào. Thật không ngờ!

Còn cái chuyện quê hương bản quán của ông nó còn nhiêu khê, ly kỳ và bí hiểm hơn nhiều, người thì bảo ông "dân nhãn lồng Hưng Yên", người khác lại bảo ông đích thị xứ vải thiều Hải Dương. Mấy ông có vẻ "thâm cung bí sử" thì lại bảo ông là Việt kiều Lào. Ông khác cãi lại - ông là Việt kiều Thái. Thật trời cũng không hiểu nổi… Chưa xong, tới chuyện xác định thổ ngữ. Kể cũng lạ. ông nói đặc sệt tiếng Bắc. Nhưng lại là cán bộ miền Nam tập kết. Mấy "anh Hai" khẳng định như đinh đóng cột rằng: "Ông là dân Nam Bộ - đã từng là Tỉnh đội trưởng Long Châu Sa. Vợ ông người Long Châu Sa chánh hiệu". Ôi! Cái nghề tình báo sao mà thần bí thế! Có lúc tôi đã thốt lên như vậy.

Trung tướng Nguyễn Như Văn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo, Bộ Quốc phòng.
Trung tướng Nguyễn Như Văn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo, Bộ Quốc phòng.

Mang tiếng là một nhà văn, nhà báo đã bao lần tôi định viết một cái gì đó về ông, một người thủ trưởng đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Nhưng rồi lại thôi. Bởi kỷ niệm về ông thì nhiều trong khi hiểu biết về lịch sử cuộc đời hoạt động cách mạng của ông lại quá mỏng. Một sự may mắn bất ngờ đến với tôi, mùa thu năm nay tôi gặp lại Nguyễn Văn Cần - đồng đội cũ đã từng gắn bó với nhau nhiều năm tại địa bàn Bến Tre - (Cụm Tình báo H67). Không ngờ, Cần lại là người cùng làng với ông. Anh đã trở thành cầu nối giúp tôi liên lạc được với em ruột của ông là ông Nguyễn Như Trác. Mừng quá thế là bao huyền thoại, bao bí mật về ông mới được "bật mí". Bao băn khoăn, khúc mắc về ông mới được giải đáp.

Những chặng đường binh nghiệp

Ông tên thật là Nguyễn Như Văn (tự Tư Văn, Tư Hiệp). Sinh năm 1924, quê: xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên. Tham gia cách mạng rồi nhập ngũ quân đội. Hoạt động trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của ông có nhiều chi tiết khác người. Tỷ như tháng 5/1945, tham gia cách mạng nhưng lại ở Chi bộ Việt Minh tại thị xã Thakhek (Lào). Rồi tháng 8/1945, tham gia cướp chính quyền và  gia nhập Việt kiều cứu quốc quân, chiến đấu ở chiến trường Thakhek. Tới khi Pháp chiếm Thakhek (tháng 2/1946), đơn vị đã rút sang Thái Lan lập chiến khu bí mật. Tháng 12/1946, theo Chi đội Trần Phú hành quân về nước, hoạt động tại Tây Ninh. Đơn vị đổi tên là Chi đội Hải ngoại 4; tháng 5/1947, đơn vị chuyển về Sa Đéc (địa bàn Khu Tám), đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 109.

Đường "quan lộ" của ông có những đặc điểm khác nhiều người. Ông từng là Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội trưởng Lưỡng tỉnh (Sa Đéc và Long Châu Tiền). Năm 1951, sáp nhập 2 tỉnh thành Long Châu Sa, ông được cử giữ chức Phó tỉnh đội trưởng. Khi lực lượng vũ trang cấp tỉnh tổ chức thành trung đoàn, chuẩn bị tập kết ra miền Bắc, ông được chỉ định làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Long Châu Sa. Quãng thời gian hơn một phần hai con giáp từ khi ông ở Chi đội Hải ngoại 4 về hoạt động trong nước, cho đến năm 1954 tập kết ra Bắc, ông đã gắn bó trọn vẹn với chiến trường Nam Bộ, mảnh đất cực Nam hiền hòa ấy đã thắp lên ngọn lửa tình trong lòng chàng trai Việt kiều quê xứ Bắc - Nguyễn Như Văn. Anh đem lòng yêu say đắm cô gái miệt vườn có cái tên của một loài hoa sứ giả tình yêu - Hồng, Nguyễn Thanh Hồng. Mối tình đẹp như trong sách ấy đã đơm hoa, kết trái. "Cách cách" đầu lòng là cô Nguyễn Thị Dung sau này cũng nối nghiệp cha, nghe nói đã trở thành một đại tá - bác sĩ quân y. Hai người con trai là Nguyễn Như Hiệp và Nguyễn Như Hoàng đều thành đạt, đang công tác tại TP HCM.

Những năm đầu tập kết ra Bắc, ông được tổ chức điều động sang nhiều vị trí công tác mới - Chính ủy Trung đoàn 570 - Sư đoàn 330, Chủ nhiệm Pháo binh sư đoàn, tiếp theo là về Cục Tình báo (thời đó gọi là Cục Nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu). Đó là bến đỗ cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Trên 40 năm phục vụ trong lực lượng tình báo quân sự, ông đã kinh qua các chức vụ: Trưởng phòng Điệp báo, Phó cục trưởng, Cục trưởng rồi Tổng cục trưởng. Trên 30 năm quen biết gắn bó và là cấp dưới của ông, tôi bỗng nhận ra một điều lý thú đặc biệt nữa trên bước đường "quan lộ" của ông, đó là: ông là vị tướng đầu tiên có quân hàm cao nhất của Cục Tình báo - Trung tướng Cục trưởng từ năm 1989. Thời đó, với đơn vị cấp cục mà được thăng quân hàm cỡ đó quả là hiếm hoi. Đó là niềm tự hào chung của toàn lực lượng tình báo quân sự anh hùng.

Với tôi, ngoài niềm tự hào, tôi còn được đem theo nhiều kỷ niệm sâu sắc về ông.

Nước mắt ngày chia tay

Đó là một buổi chiều tại Trạm 66. Hôm đó Phó cục trưởng Nguyễn Như Văn đến để chia tay, tiễn chúng tôi vào chiến trường miền Nam. Sau khi làm việc trực tiếp với trưởng đoàn (anh Trương Phụng Cơ, tức Mười Tùng), ông gặp mặt chung toàn đoàn, gọi là để giao nhiệm vụ. Trước khi lên xe, ông kéo 3 chiến sĩ trẻ là tôi, Nguyễn Văn Giai (quê ở Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh) và Nguyễn Đăng Bách (quê Tiên Du, Bắc Ninh) ra hành lang phòng họp.

Ông nắm chặt tay 3 chúng tôi, lâu lắm mới cất thành lời: "Anh em kia họ về quê chiến đấu, dẫu sao họ cũng có thuận lợi đã quen thung thổ… Chỉ thương cho mấy chú em còn trẻ quá, lại lạ nước lạ cái… Đường đi dài lắm, nhanh thì cũng 4 tháng mới tới nơi, mỗi đứa sẽ về một cụm. Hầu hết là anh em quê trong đó. Hãy cố gắng để sớm thích nghi với môi trường, xứng đáng là cán bộ miền Bắc tăng cường…". Ông nói trong tâm trạng xúc động nghẹn ngào. Tôi ngước nhìn ông, những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt phong trần của ông, người thủ trưởng, bậc cha chú, huynh trưởng của lớp cán bộ trẻ chúng tôi.

Bữa "tiệc" ở trạm giao liên

Hầu hết các đoàn "Nam tiến" thời đó khi vào tới rừng Khu Sáu đều cạn kiệt thực phẩm, ăn uống không có gì ngoài cơm và muối rang. Thành thử anh nào cũng hốc hác, xanh như dọc. Một miếng thịt lúc đó còn quý hơn một củ sâm bây giờ. Đoàn chúng tôi dừng nghỉ ở một trạm giao liên khoảng giữa Khu Sáu. Phải dừng ở đó mất mấy ngày vì trạm phía trước vừa bị bom tàn phá. Đoàn tới sau nên phải trú quân ở xa trung tâm trạm và xa nguồn nước. Phải đi cả cây số mới lấy được nước về dùng.

Sáng hôm sau họp đoàn. Buổi chiều, tôi và Giai rủ nhau đi kiếm rau rừng để cải thiện bữa ăn. Đi mãi mà chẳng kiếm được gì, dù là một cọng rau tầu bay. Nhưng lại gặp một khu bếp của trạm. Một mùi vị vô cùng hấp dẫn tỏa ra từ trong đó - mùi mắm tôm. Vì mới đầu giờ chiều nên bếp vắng tanh. Chúng tôi đánh bạo đi vào. Chiếc bếp Hoàng Cầm còn âm ỷ than. Bên trên là chiếc nồi quân dụng. Giai mở nắp nồi.

Cả hai đều thốt reo lên: "A... nước chấm nấu bằng mắm tôm!". Tần ngần mãi, cuối cùng đành lặng lẽ đi ra. Dẫu rằng cả hai đều có bi đông bên người. Đi được một quãng, bỗng nghe tiếng gọi phía sau: "Hai đồng chí ơi! Dừng lại cho tôi hỏi thăm một chút". Đó là một trung niên, tự giới thiệu là Trạm trưởng. Với giọng nói vui vẻ, đầy thiện cảm: "Hai đồng chí ở đoàn anh Mười Tùng phải không? Tiếc quá, nhờ 2 đồng chí về nói giúp với anh Mười thông cảm cho tụi tôi, vì tối qua đoàn về muộn quá. Vả lại, không biết... nên bố trí ở ngoài đó xa quá. Sáng nay, chúng tôi đã sắp xếp lại. Chiều, sau khi ăn cơm, sẽ có giao liên ra đón các anh vào trong này...". Tôi thầm nghĩ: "May quá. Chắc ông này là người quen của anh Mười". Bởi thế, tôi liền đánh bạo, hỏi luôn: "Anh ơi! Em mới đi qua bếp của các anh. Trong đó có một nồi nước mắm tôm ngon quá. Chúng em muốn...". "Ô! Tưởng gì chứ... Sao vừa rồi không lấy luôn một ít... Xin mời 2 chú em quay lại". Thật là "niềm vui sao đến bất ngờ". Anh trạm trưởng còn dúi vào tay tôi 2 con cá khô. Tôi thực lòng đáp lễ: "Rất cám ơn anh. Thế là hạnh phúc lắm rồi. Gần tháng nay anh em chỉ mỗi một món muối tiêu".

Bữa cơm chiều hôm đó quả là bữa ăn nhớ đời. Ngon hơn cả yến tiệc ngày nay. Với thực đơn: Cá khô chia thành 15 suất, mỗi suất một miếng nhỏ hơn cái bao diêm; nước mắm mỗi người nửa bát; rau sống là một thứ lá Kim Cang. Nó chua chua, chát chát, lại bùi bùi, chấm với nước tự tạo bằng mắm tôm sao mà ngon thế. Bữa ăn thật rôm rả. Bao nhiêu lời ngợi khen dành cho chúng tôi: "Giỏi! Giữa rừng xanh núi đỏ mà kiếm được mấy thứ "đặc sản" này thì các cậu thuộc loại siêu đẳng về ngoại giao! Mà kiếm ở đâu ra vậy?". "Của trạm trưởng giao liên cho đấy. Ông ấy tự cho chứ có xin xỏ gì đâu". "Xạo! Cả rừng quân như vậy. Của đâu mà tự dưng đem cho". Tôi thuật lại câu chuyện về cuộc gặp gỡ bất ngờ trạm trưởng giao liên. Tất cả đều lặng yên. Bỗng dưng anh Tám Bàng, người con của miệt vườn Sa Đéc, thốt lên: "Chết cha rồi! Chắc ông nội này nghĩ ta là đoàn cán bộ của anh Văn Tổng tư lệnh nên mới đối xử vậy. Mấy anh nghĩ lại coi, hồi sáng có đoàn của trạm đi kiểm tra an toàn khói lửa. Vì ta đang họp nên họ không vào. Có thể họ nghe được khi anh Mười nhắc phải ghé về "R" để chuyển thư của anh Văn. Đem thư của Đại tướng Tổng Tư lệnh phải là đoàn đặc biệt chứ còn gì...". Tiếng cười rộ lên: "Có lý! Rất có lý... Cứ cho hôm nay là bữa tiệc anh Tư Văn chiêu đãi chúng ta sau hai phần ba chặng đường mà vẫn đảm bảo an toàn lực lượng...".

Vị chủ hôn bất đắc dĩ

Tôi được điều từ địa bàn Bến Tre về Ban A44 thuộc J22. Tới căn cứ Lộc Ninh vào giữa quý III năm 1974. Cuối năm, ở A44 tổ chức một đám cưới tập thể gồm 4 đôi. Ngày vui của tứ đôi uyên ương hôm đó được tổ chức tại hội trường của Ban A44. Đó là một cái lán rộng, mái lợp lá trung quân. Theo phân công của Ban tổ chức, anh Võ Hoàng Vân (Ba Vân), Trưởng ban sẽ làm chủ hôn. Sắp tới giờ "khai mạc", một chiếc xe Honda 67 phóng thẳng vào sân hội trường. Ngồi đằng sau là một người tướng vóc đạo mạo, vầng trán mênh mông, chỉ còn một nửa cái khăn xếp bằng tóc phía sau. Tất cả anh em reo lên: "Anh Tư! Anh Tư Hiệp...".

Ông xuống xe, bắt tay mọi người, cười pha vui: "Tớ là khách không được mời nhưng cứ đến. Không cho dự thì tớ về". Tiếng cười rộ lên. Anh Ba Vân đỡ lời: "Xin anh thông cảm. Anh em nó ngại không dám mời thủ trưởng. Đây là một đám cưới đông nhất của Ban. Cám ơn anh đã đến và xin anh làm chủ hôn giúp cho...". Ông lại ha hả cười với câu vui đùa thật hóm - "Không được mời vẫn cứ tới. Huống hồ được mời làm cái chân chứng kiến cho họ về ăn ở với nhau thì việc gì mà không nhận". Tiếng cười lại rộ lên, vang động cả cánh rừng. Thủ trưởng Nguyễn Như Văn, anh Tư của chúng tôi là thế đấy.

Kết thúc chiến tranh, tôi chuyển ngành sang cơ quan An ninh, công tác tại Hà Nội nên thi thoảng vẫn được gặp ông. Cảm động nhất là lần ông đến thăm tôi ở khu cư xá Hoàng Cầu và ở lại ăn cơm với gia đình. Vợ con tôi cũng không ngờ được rằng cái căn hộ tập thể tuềnh toàng của mình lại được đón tiếp một vị tướng tình báo tài danh, một pho tiểu thuyết về cái nghề bí mật với bao chuyện ly kỳ. Trên 40 năm trực tiếp chỉ đạo và tham gia chỉ đạo công tác tình báo quân sự, đặc biệt là giai đoạn trước 30/4/1975 ở miền Nam. Trong ông ứ đắp những tư liệu từ lưới tình báo Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy… tới lưới tình báo Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung), Đặng Trần Đức (Ba Quốc), H3 (Nguyễn Văn Lễ thuộc H67 - Nghị sĩ quốc hội Sài Gòn)…

Với tôi, Trung tướng, Tổng cục trưởng Nguyễn Như Văn mãi mãi là người thầy, người anh cả, tôi vô cùng biết ơn và kính trọng. Ông đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho lực lượng tình báo Anh hùng của QĐND Việt Nam Anh hùng.

Khổng Minh Dụ

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.