Vẫn "biệt hải" tên Linh, kể: "Có những ngư phủ dày dạn kinh nghiệm nên dù mắt họ bị bịt kín, nhốt dưới hầm tàu nhưng chỉ cần nghe tiếng tàu cưỡi sóng và thời gian tàu chạy, họ cũng biết bị đưa về phía
Không thuyết phục được họ, CIA ra lệnh tra tấn họ để khai thác rồi cuối cùng chuyển họ ra nhà tù đảo Phú Quốc như tù binh chiến tranh bởi lẽ ngoài nghề đánh cá, ở địa phương họ còn tham gia dân quân tự vệ!
"Biệt hải" Nguyễn Thà kể lại một chuyến xâm nhập miền Bắc như sau: "Trung thu năm 1967, chúng tôi được lệnh bí mật vào Thanh Hóa để làm nhiệm vụ tâm lý chiến, là phát cho người dân ở cửa biển Tĩnh Gia những gói quà của MTGTAQ, gồm vải vóc, áo quần, bánh kẹo và radio, đã được gói sẵn trong bọc nilon không thấm nước...
Đến ngày xuất phát, chúng tôi được chiến đỉnh PTF đưa từ Đà Nẵng ra vùng biển Thanh Hóa rồi dùng xuồng cao su chèo vào bờ. Trước đây đã có nhiều toán xâm nhập khi vừa vào đến bờ là bị bắt ngay tại chỗ nên chúng tôi dù không ai nói ra, nhưng tất cả đều nơm nớp lo sợ cho số phận của mình.
Mặc dù trên sa bàn cũng như trên bản đồ không ảnh, cách địa điểm chúng tôi đổ bộ khoảng 500m là một làng đánh cá. Nhưng khi chạm đất, xung quanh chỉ toàn rừng dương. Có lẽ những cơn sóng lớn đã đẩy chúng tôi đi lạc. Tìm kiếm một lúc nhưng không kết quả, toán trưởng Kha ra lệnh bỏ lại tất cả những gói quà xuống bờ cát rồi lên xuồng cao su tháo lui. Trên xuồng, Kha dặn anh em chúng tôi khi về báo cáo, thì đều phải nói "đã tiếp xúc với gần 30 người dân, phát quà. Dân rất hoan nghênh và tin tưởng MTGTAQ".
Với những thông tin thu thập được - kể cả thông tin "ma", đại loại như thông tin do nhóm "biệt hải" Nguyễn Thà báo cáo, cộng với những tin tức lấy từ tù binh hoặc những kẻ chiêu hồi, Weisshart chuyển sang bộ phận biên tập Đài MTGTAQ để xử lý. Vì thế, chẳng lấy làm lạ khi trong nhiều bản tin, Đài MTGTAQ nêu vanh vách họ tên của một số bí thư, chủ tịch xã, huyện, tỉnh ở Hà Tĩnh, Quảng Bình hay Sơn La, Hải Phòng...
Hàng đêm, tầm khoảng 22h, một giọng nữ lại rền rĩ trên Đài MTGTAQ với âm sắc thê lương: "Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi thấy những đứa con của mẹ sinh ra ở miền Bắc và phải chết ở miền Nam", rồi sau đó là họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán của từng "người chết". Tuy nhiên, lắm khi cái trò tâm lý chiến này lại… phản chủ! Trong một cuộc hành quân ở phía bắc Củ Chi, lính Mỹ nhặt được một cuốn sổ tay bị bom đánh tan nát, chỉ còn lại một phần trang đầu với dòng chữ viết tên Nguyễn Công Lộc,
Thế là mấy hôm sau, trong mục "sinh Bắc tử Nam" của Đài MTGTAQ, cái tên Nguyễn Công Lộc cùng địa danh quê quán được xướng lên, nêu rõ Lộc "hy sinh tại mặt trận Củ Chi vì bom B52" trong lúc sự thật thì anh Lộc này, có người bạn thân đi bộ đội nên ngày bạn lên đường, anh đã tặng bạn cuốn sổ tay ghi tên mình như một vật kỷ niệm!
Chưa hết, trong những chuyến xâm nhập, nếu xảy ra đụng độ và nếu "biệt hải" bắt được tù binh thì họ sẽ bị đưa ra tòa án "Gươm thiêng ái quốc", bị khép vào tội "chống lại quê hương" và lãnh án tử hình. Tuy nhiên, do "chính sách khoan hồng" của MTGTAQ, tù binh được đưa đến Cù lao Chàm rồi được tuyên truyền, nhồi sọ. Trước khi trả về làng cũ, tù binh bị bắt buộc phải viết giấy thú tội rồi sau đó, những lời "thú tội" ấy được phát liên tục trên Đài MTGTAQ.
Trường hợp tù binh bị khuất phục, họ sẽ được đào tạo, huấn luyện kỹ năng gián điệp để làm việc cho "mặt trận". Khi trở về quê quán, họ sẽ hoạt động ngầm, tuyên truyền cho "mặt trận". Trong tay OP39, MTGTAQ không chỉ là chiến tranh tâm lý, mà thật sự là công cụ phá hoại, chống lại chế độ miền Bắc bằng việc xúi giục dân chúng miền Bắc vũ trang lật đổ chính quyền.
Chiến dịch "Đậu phụng" và chiến dịch "Những mảnh xà phòng"
Sau khi lập xong các đài phát sóng, vấn đề còn lại của kế hoạch OP39 là làm thế nào để người dân miền Bắc nghe được những bản tin, những bài bình luận của Đài MTGTAQ, Đài Tiếng nói Việt Nam "dỏm", Đài Cờ Đỏ, Đài Sao Đỏ, Đài Mẹ Việt Nam… Theo tài liệu của CIA đã giải mật, thì vấn đề này được giải quyết bằng "Chiến dịch những hột đậu phụng" (Peanuts Operation).
Trong hai năm 1966-1967, đã có khoảng 30 nghìn chiếc radio tí hon với tần số cài đặt sẵn, làm từ Nhật Bản nhưng không ghi xuất xứ, được thả xuống miền Bắc và những vùng giải phóng ở miền Nam bằng dù, hoặc cho vào túi nilon trong suốt, không thấm nước để người nhặt có thể thấy rõ chiếc radio rồi thả theo đường biển kèm với những món quà như pin, bút, sách, nến (đèn cầy), bật lửa, đá lửa, truyền đơn, để thủy triều đưa vào bờ.
Giữa năm 1968, đại tá Bill Rydell - người chỉ huy kế hoạch OP39 nhận ra rằng vấn đề pin dùng cho radio là vấn đề sinh tử trong cuộc chiến tranh tâm lý. Trong một cuộc họp, ông ta nêu câu hỏi: "Nếu một người dân miền Bắc nhặt được túi quà rồi cất giấu để sử dụng. Sau một thời gian, pin hết, liệu ông ta có bị nghi ngờ khi đi mua pin hay không trong lúc An ninh Bắc Việt Nam đều biết túi quà có radio cài sẵn băng tần Đài MTGTAQ?".
Để giải quyết vấn đề này, Bill Rydell đặt hàng một công ty Nhật Bản, sản xuất cho OP39 loại radio chạy bằng dây cót. Cứ mỗi lần lên dây cót, điện năng sẽ được sản sinh ra, đảm bảo cho radio hoạt động trong nửa giờ. Tuy nhiên, khi loại radio "dây cót" chưa kịp hoàn thành thì đầu tháng 11/1968, Tổng thống Lyndon Johnson ra lệnh chấm dứt kế hoạch OP39. Dù vậy, trong năm 1968 cũng đã có 10 nghìn chiếc radio dùng pin được thả xuống miền Bắc.
Song song với những việc này, nhiều bức thư giả mạo được gửi từ
Cũng trong chiến dịch này, những kẻ chiêu hồi được lệnh viết thư cho thân nhân ở miền Bắc, đề cao đời sống miền Nam, đề nghị gia đình tìm kiếm những "túi quà tâm lý chiến" và cất giấu kỹ lưỡng, bất cứ lúc nào thuận tiện thì lấy ra nghe Đài MTGTAQ, Đài Mẹ Việt Nam… Những lá thư ấy, thông qua một số điệp viên CIA cài cắm trong các tổ chức từ thiện phi chính phủ, hoặc một số cơ quan ngoại giao phương Tây, mang vào Hà Nội rồi điệp viên tìm cách mua phong bì, tem thư miền Bắc, gửi đến địa chỉ người nhận.
Những kẻ cầm đầu OP39 tin rằng người nhận thư sẽ bị Cơ quan An ninh Bắc Việt Nam đặt vào vòng nghi vấn, và việc điều tra, xác minh phải mất một thời gian dài. Dĩ nhiên, khi đã bị nghi vấn thì người ấy sẽ không còn được giữ chức vụ cũ. Như thế, mầm mống bất mãn sẽ có cơ hội để phát triển.
Riêng chương trình "Những mảnh xà phòng" (Soap Chips), OP39 giao cho một số kẻ chiêu hồi, ngụy tạo những bức thư gửi về gia đình, sau đó lính biệt kích sẽ đặt nó vào túi áo, túi quần hoặc balô của những bộ đội tử trận. Nội dung thư kể lể cảnh sống cơ cực, thiếu thốn, bệnh tật, những cái chết của đồng đội trên đường từ Bắc vào
Bên cạnh đó, thư cũng không quên đề cao sức mạnh không quân, pháo binh, xe tăng, bộ binh quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng sự bi quan về tương lai mờ mịt, không biết đến ngày nào mới chiến thắng. Theo Weisshart, những người thu dọn tử thi sẽ phải lục tìm giấy tờ để tìm hiểu họ tên, nhân thân người chết và chắc chắn họ sẽ đọc những bức thư này. Nó sẽ gây ra những tác động không nhỏ về tâm lý.
Không chỉ tiến hành chiến tranh tâm lý, OP39 còn có chương trình “Anh trai cả” (Eldest Son). Thiếu tá David Thelm, thành viên của OP39, cho biết: "Thông qua những kẻ lái súng, CIA đặt mua từ một nước khác đạn B40, B41 và đạn súng cối 82 ly do Trung Quốc chế tạo rồi đem về tháo ra, nhồi vào bên trong chất nổ tức thì. Những loại đạn này, máy bay của CIA bí mật thả xuống vùng biên giới giữa Việt Nam, Campuchia, Lào để khi bộ đội thu được, đem ra sử dụng, nó sẽ nổ ngay trong nòng súng, giết chết người bắn và những người đứng xung quanh ngay lập tức.
Thất bại thảm hại
Trong suốt 7 năm (từ 1961 đến 1968), CIA đã đầu tư rất nhiều công sức và tiền bạc cho cuộc chiến tranh tâm lý. Tuy nhiên kết quả chỉ là những thất bại thảm hại. Tất cả những người dân miền Bắc, bộ đội hoặc dân ở vùng giải phóng miền
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại, theo đại tá Bill Rydell, người cuối cùng chỉ huy OP 394, thì sự đánh giá không chính xác kết quả của những cuộc hành quân tâm lý chiến phát xuất từ bộ phận "sưu tầm và phân tích". Họ đã không tìm ra các điểm yếu về tâm lý của đối phương, cũng như không lường hết tinh thần cảnh giác của nhân dân miền Bắc. Tháng 6/1967, tờ tạp chí “Học tập” và báo Nhân Dân xuất bản tại Hà Nội đã cho đăng bài viết, công khai tố cáo MTGTAQ chỉ là một tổ chức ma nên người dân miền Bắc lại càng thờ ơ với những chương trình phát thanh của đài này.
Đầu tháng 11/1968, Tổng thống Lyndon Johnson ra lệnh chấm dứt Kế hoạch OP39 vì "không thu được kết quả gì". Trại Do Do ở Cù lao Chàm - “đảo thiên đường” giải tán. Đài MTGTAQ và Đài Mẹ Việt Nam được giao cho Bộ Thông tin, Dân vận, Chiêu hồi của chính quyền Sài Gòn, do Vũ Quang Ninh làm giám đốc, và nó tiếp tục hoạt động cho đến gần cuối tháng 4/1975. Còn Đài Cờ Đỏ, Sao Đỏ thì… tắt tiếng vì không còn tiền của Mỹ để hoạt động.
Theo lời khai của một số nhân viên làm việc ở Đài Mẹ Việt Nam và căn cứ vào trang thiết bị còn lại sau ngày Sài Gòn giải phóng, thì các đài Gươm thiêng ái quốc, Cờ Đỏ, Sao Đỏ, Đài Tiếng nói Việt Nam "dỏm"…, chỉ có một cơ sở kỹ thuật chung là Đài Mẹ Việt Nam mà thôi…