Saddam Hussein - Muammar Gaddafi: Những sự tương đồng đáng lo ngại
Cách đây 20 năm, chính trong đêm Chiến tranh Vùng Vịnh nổ ra, Đại tá Muammar Gaddifi đã phản đối một phóng viên so sánh ông ta với Tổng thống Iraq Saddam Husein khi bàn về sự can thiệp của Mỹ và phương Tây đối với các quốc gia trong thế giới Arập.
20 năm sau, khi lực lượng nổi dậy tràn lên chiếm Tripoli trong những ngày vừa qua thì hình ảnh của ông Gaddafi và cuộc chiến trên đất nước Libya lúc này một lần nữa khiến người ta không thể không so sánh ông với cựu Tổng thống Iraq - Saddam Hussein trong cuộc chiến tranh ở Iraq năm 2003.
Và mặc nhiên, giới phân tích giờ đây có lý do để lo ngại sự can thiệp của Mỹ vào Libya sẽ tiếp tục đi vào vết xe đổ như những gì xảy ra ở Iraq và Afghanistan. Đây là lần thứ 3, Mỹ can thiệp quân sự vào một quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên, về bản chất, cuộc chiến lần này khác khá nhiều so với hai cuộc chiến tranh trước đây.
Những điểm tương đồng khó chịu
Có thể thấy giữa cựu Tổng thống Iraq Saddam Hussein và Đại tá Muammar Gaddafi có quá nhiều điểm tương đồng, từ hoàn cảnh xuất thân, gia đình, sự nghiệp,.. Về cơ bản cả hai đều là những nhà lãnh đạo có đường lối cầm quyền theo kiểu "độc tài" và khá thất thường. Theo đánh giá của phương Tây thì cả hai đều là những "bạo chúa" với chính thần dân của họ.
Cả Saddam và Gaddafi đều là những người đứng đầu những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn trên thế giới, họ không ngần ngại gây chiến, sẵn sàng đổ máu với cả những người hàng xóm. Thêm nữa, không chỉ Hussein mà cả Gaddafi cũng đặc biệt say sưa với những loại vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt… điều mà Mỹ và phương Tây thấy thực sự khó chịu. Và sự tương đồng một lần nữa được thể hiện rất rõ qua cách hai con người này ứng phó trong cuộc chiến tranh trên đất nước họ.
Giống như nhà lãnh đạo của Iraq trong cuộc chiến tranh năm 2003, khi lực lượng nổi dậy ở Libya khiêu chiến, ông Gaddafi cũng đã thề sẽ đánh bại các kẻ thù của mình ngay tại cửa ngõ thủ đô. Tuy nhiên sự việc đã chẳng dễ dàng đến thế khi nhà độc tài này sớm nhận thấy vây cánh của mình, trong đó có cả lữ đoàn do con trai Khamis chỉ huy, cũng bị đập tan bởi các cuộc tấn công của NATO.
Cựu Tổng thống Iraq - Saddam Hussein.
Năm 2003, hai trong số những người con của ông Hussein đã chạy trốn khỏi Baghdad mà không bắn được lấy một viên đạn. Chủ nhật tuần trước, hai người con của ông Gaddifi, kể cả người thừa kế là Seif al-Islam cũng nhanh chóng đầu hàng trước quân nổi dậy.
Với những "thành tích" này, nhà lãnh đạo Libya tỏ ra không kém cạnh gì so với nhà cựu lãnh đạo của Iraq . Một kịch bản đã được lặp lại. Đó là khi xe tăng của quân đội Hoa Kỳ tiến vào trung tâm Baghdad, ông Hussein cũng đứng trên nóc chiếc ôtô Volkswagen Pasat bên ngoài một trong những thánh đường quan trọng của nhà thờ Hồi giáo dòng Sunni dõng dạc tuyên thệ, sẽ luôn đứng bên cạnh bảo vệ nhân dân.
Và sau này, Đài Truyền hình quốc gia Libya cũng đã phát đi một thông điệp bằng âm thanh của ông Gaddafi kêu gọi người dân Libya hãy bảo vệ Tripoli khỏi các cuộc tấn công của phe đối lập, và rằng, đây là nghĩa vụ của mỗi người dân Libya. Trước đó, ông đã ra lời kêu gọi tương tự trên Truyền hình quốc gia và tuyên bố sẽ ở lại Tripoli cũng như thề sẽ không khuất phục khi lực lượng nổi dậy tràn vào thủ đô.
Đối với chiến tranh Iraq, ông Hussein cũng đã biến mất trong vòng 8 tháng cho đến khi xuất hiện trở lại mà theo đúng nghĩa đen là chui lên từ lòng đất khi quân đội Mỹ phát hiện ra hệ thống hầm ngầm sâu dưới đất của vị lãnh đạo cao cấp này. Khi “những con chuột” (từ của ông Gaddafi chỉ phe đối lập) tràn đến thủ đô, ông Gaddafi cũng biến mất tăm. Báo cáo truy tìm tung tích mới nhất cho biết, việc tầm nã ông Gaddafi cũng khó khăn như việc tìm kiếm ông Saddam Hussein.
Lời kêu gọi bằng âm thanh của ông Gaddafi trên truyền hình được các chuyên gia xác định rằng, khi đó ông ta ngồi dưới hầm và phát biểu trên truyền hình quốc gia bằng điện thoại. Theo họ, hành động này nhằm che giấu manh mối cho thấy ông đang ở đâu. Không chỉ có Saddam, dinh thự Bab al-Aziziya (tiếng Ảrập nghĩa là "Cổng tráng lệ") ở Tripoli của gia đình ông Gaddafi dù bị bom của NATO oanh tạc dữ dội nhưng được cho là đã được biến thành một mạng lưới hầm ngầm phức tạp nằm dưới những đống đổ nát. Hệ thống hầm trú ẩn này tương tự như mạng lưới ngầm của ông Hussein bên dưới những tòa lâu đài ở Baghdad.
Một kịch bản lặp lại?
Quay trở lại với diễn biến câu chuyện tháng 3/2003 ở Baghdad. Rõ ràng ông Gaddafi đang "noi gương" ông Hussein khi để cho phần lớn thủ đô của mình bị chiếm đóng một cách nhanh chóng, đến mức người ta tưởng như đây là một phần của chiến thuật rút quân vậy. Một sự khởi đầu cho chiến dịch đánh lừa phe đối lập hoặc cho một cuộc chiến dai dẳng theo kiểu chiến tranh ở Iraq, cuộc chiến mà đã 8 năm cho đến nay vẫn không thể dừng lại, cuộc chiến mà hệ lụy của nó là hàng nghìn người chết, bị thương và tàn phế.
Ông Amr Mussa, lãnh đạo liên minh Arập - một trong những bên ủng hộ quyết định lập vùng cấm bay ở Libya. Viễn cảnh tối tăm này đang dâng lên như một cơn ác mộng, ám ảnh các nhà lãnh đạo phương Tây như Thủ tướng Anh David Cameron, Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp và Tổng thống Mỹ Obama rằng, việc những quốc gia này nhúng tay vào cuộc lật đổ ông Gaddafi và cung cấp quân đội dự bị để làm việc này có thể sẽ khiến họ trở thành những kẻ tiếp tay cho những tai họa khủng khiếp. Liệu Lybia có thể trở thành một Iraq thứ hai? Liệu phương Tây có giới hạn những can thiệp quân sự của mình vào các cuộc không chiến và rút chân khỏi những cuộc nổi loạn?
Thủ tướng David Cameron cùng những thành viên của giới chức phương Tây đang cố gắng đẩy nhanh việc phân tích các diễn biến nhanh chóng của tình hình Tripoli, từ cướp bóc, bạo lực giữa các giáo phái đến các cuộc trả thù đẫm máu. Những vấn nạn cùng tên này trước kia và đến bây giờ vẫn là những vấn đề nhức nhối chưa thể giải quyết ở Iraq. Ngài Cameron trả lời với báo chí tại phố Downing rằng: "Những chuyên gia bình ổn" ở London đã làm việc nhiều tháng liền với lực lượng nổi dậy ở Lybia để cho ra một kế hoạch chuyển đổi chính trị êm thấm ở Tripoli.
Nhân lúc này quân nổi dậy cũng yêu cầu các cơ sở y tế, thông tin liên lạc, điện, nhiên liệu và nước phải được duy trì và sửa chữa, theo đó mọi hình thức viện trợ phải được thúc đẩy nhanh chóng để người dân có thể lấy lại điều kiện sinh hoạt bình thường càng sớm càng tốt. Danh sách yêu cầu nghe giống một chuỗi các quy tắc xây dựng dựa trên những sai lầm mà các nhà phân tích đã xoáy sâu phân tích như là tâm điểm của những gì người Mỹ trải qua tại Iraq. Lúc này câu hỏi đặt ra là, liệu sự quyết tâm cao độ của giới chức phương Tây và các thủ lĩnh của lực lượng nổi dậy có đủ để vực đất nước Libya với chính quyền non trẻ đang trong cơn say chiến thắng hay lại đẩy nền chính trị Libya đến một tương lai tăm tối, chia rẽ và xung đột đảng phái?
Tripoli khói lửa trong những ngày cuối tháng 8/2011. Một kịch bản tương tự cuộc chiến Iraq liệu có lặp lại?
Tránh vết xe đổ
Với Iraq, Mỹ đã kiếm lý do "tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt" để tấn công, nhưng khi chiến tranh kết thúc lại không thể chứng minh được Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt như thế nào. Liệu điều tương tự có xảy ra với Libya của ông Gaddafi khi một trung tâm nghiên cứu gần Tripoli đã bị phát hiện có chứa những nguyên liệu hạt nhân dùng để chế tạo những quả "bom bẩn"? (loại bom có sức hủy diệt lớn và chứa các vật liệu phóng xạ).
Lần này nữa, Mỹ dấn thân vào cuộc chiến tranh với một đất nước Hồi giáo. Cuộc chiến đẩy lùi Gaddafi của Libya năm 2011 cũng tương tự như sứ mệnh lật đổ Saddam Hussein ở Iraq năm 2003. Giới quan sát cho rằng, bất luận kết cục của cuộc tấn công vào Libya lần này có như thế nào thì hình ảnh nước Mỹ trong mắt thế giới Hồi giáo sẽ chẳng có gì thay đổi so với sau cuộc chiến tại Iraq cách đây 8 năm cả. Điều đó có nghĩa, nước Mỹ vẫn tiếp tục bị "tẩy chay" sau 3 cuộc tấn công liên tiếp vào thế giới của những người Hồi giáo. Tuy nhiên, người ta cũng đủ công tâm để nhận định rằng, cuộc tấn công của Mỹ dưới thời Obama vào Libya năm 2011 có những sự khác biệt cơ bản với những gì mà người tiền nhiệm G.W.Bush đã làm.
Dù sao, Tổng thống Obama cũng tìm được lý do mang "hình thức sạch sẽ" bằng sự cho phép Liên Hiệp Quốc với một nghị quyết do Hội đồng Bảo an thông qua. Trong khi đó cuộc chiến tranh xâm lược vào Iraq 8 năm trước chỉ bắt đầu bằng cái cớ khá mập mờ của G.W. Bush: "Thực thi nền tự do, dân chủ ở Iraq". Rõ ràng, Obama có được "quyền hợp pháp" sử dụng lực lượng quân sự Mỹ tại Libya còn G.W. Bush thì không. Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an được thông qua trong vấn đề Libya có nhắc tới việc, cho phép các quốc gia "sử dụng mọi biện pháp can thiệp nếu cần thiết".
Điều này sẽ nhắc người ta nhớ lại cú đòn Bush (cha) dùng để tấn công chính quyền Hussein hồi tháng 11/1990. Khi đó, chính quyền Hussein xâm lược Kuwait. Nghị quyết mà Liên Hiệp Quốc đưa ra để "bật đèn xanh" cho Mỹ nhảy vào lúc ấy cũng nhắc tới việc, các cường quốc được phép sử dụng "mọi cách thức cần thiết nếu cần", và do đó Mỹ đã yêu cầu Iraq rời khỏi Kuwait.
Một điểm khác biệt nữa trong hai cuộc chiến Libya 2011 và Iraq 2003, đó là thái độ của thế giới Arập có những động thái gần như trái ngược. Cuộc chiến xâm lược Iraq do G.W.Bush phát động không hề tìm được một nghị quyết nào của Liên Hiệp Quốc để hợp thức hóa cho những hành động quân sự của Hoa Kỳ. Đó cũng là một trong những lý do để không một quốc gia Hồi giáo nào tham gia với Mỹ trong việc chiếm đóng Iraq.
Thậm chí, trước khi Mỹ xâm lược Iraq hồi tháng 3/2003, Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ đã bỏ phiếu phản đối việc quân đội Mỹ hành quân qua địa phận Thổ Nhĩ Kỳ để vào xâm chiếm Iraq. Có nghĩa rằng, trong con mắt của thế giới Hồi giáo, cuộc chiến tại Iraq được coi là một cuộc chiến phi nghĩa và họ không chấp nhận. Người ta đã tiến hành một cuộc thăm dò vài tháng sau khi Mỹ tiến quân vào Iraq tại các quốc gia Hồi giáo như Indonesia, Jordan, Morocco, Thổ Nhĩ Kỳ,…
Kết quả là, nhất loạt đều tin tưởng rằng Osama bin Laden mới đại diện cho … "chính nghĩa", còn G. Bush thì hiển nhiên là không. Với cuộc chiến Libya lần này thì ngược lại, chính Liên đoàn Arập là một trong những bên gây sức ép mạnh mẽ lên Liên Hiệp Quốc trong việc đòi thiết lập vùng cấm bay ở Libya. Không chỉ vì sự khác nhau cơ bản giữa cuộc chiến Libya và Iraq ở "cái cớ" dẫn đến các cuộc tấn công, vấn đề ở đây là thế giới Hồi giáo dù không hề muốn một sự can thiệp thô bạo của cả Mỹ lẫn phương Tây lên trật tự của họ, nhưng ít nhiều họ cũng không đồng tình với người đứng đầu đất nước Libya.
Giới phân tích cho rằng, làn sóng "bài Mỹ" trong thế giới Hồi giáo có lẽ sẽ không bị đẩy lên sau những hành động can thiệp vào Libya như khi xảy ra cuộc chiến tranh Iraq trước đây. Và nhiều khả năng, Gaddafi cũng sẽ không được chào đón nồng nhiệt nếu ông ta có định "ở ẩn" ở Arập Xêút. Những làn sóng biểu tình kéo dài, có hiệu ứng lan tỏa khắp khu vực Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua đã cho thấy, mục tiêu đấu tranh trước mắt và đáng ngại nhất của thế giới Arập hiện không phải là Mỹ mà chính là những nhà độc tài đang cai trị họ
Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.
Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.
Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.
“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.
Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.
Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.
Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.
Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.
Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …
Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.
Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.
Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.
Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.
“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.
Trong cuốn hồi ký “Đời ký giả chuyên nghiệp”, nhà báo Đông Duy kể lại những câu chuyện ông chứng kiến về các nhà tình báo lỗi lạc của miền Bắc như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn.
Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.
Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.
H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.