NSND Đặng Nhật Minh và "Bao giờ cho đến tháng Mười"

Cùng với một số phim Việt được sản xuất trong những năm đầu sau chiến tranh, "Bao giờ cho đến tháng Mười" là bộ phim tâm lý xã hội gắn với tuổi thơ hay gắn với tất cả những ai đã có kỷ niệm thời bao cấp. Một món ăn văn hóa tinh thần thấm đẫm cho người Việt.

Bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười" được chiếu trên truyền hình vào năm 1984, lúc đó đang thời bao cấp, thời của sáng sớm đi mua gạo, mua dầu xếp hàng dài, người ta dùng dép, dùng gạch để đánh dấu đến lượt. Thời đó, các chị mậu dịch viên luôn là người có giá khi phân phát những lạng thịt hay ít rau củ quả... Thời của từng hộ xếp hàng ở một vòi nước công cộng chỉ để lấy một hai xô nước sạch. Thời đó người ta háo hức xem những bộ phim đen trắng được chiếu trên màn hình tivi chỉ khoảng 12 đến 14 inch.

NSND Đặng Nhật Minh.
NSND Đặng Nhật Minh.

Thậm chí, trong một căn ngõ trên phố cổ Hà Nội, hàng chục gia đình sinh sống chỉ có vài ba gia đình có ti vi, tối tối chúng tôi vẫn í ới gọi nhau để đi xem nhờ và phim chỉ phát vào tối Thứ sáu hằng tuần.

Cùng với một số phim Việt được sản xuất trong những năm đầu sau chiến tranh, "Bao giờ cho đến tháng Mười" là bộ phim tâm lý xã hội gắn với tuổi thơ hay gắn với tất cả những ai đã có kỷ niệm thời bao cấp. Một món ăn văn hóa tinh thần thấm đẫm cho người Việt.

Và từ bộ phim này, tên tuổi của những diễn viên Lê Vân, Hữu Mười mới thực sự được biết đến. Rất nhiều thập niên sau, tôi có dịp gặp NSND Đặng Nhật Minh, nhắc về "Bao giờ cho đến tháng Mười", ông không nói gì chỉ đưa quyển hồi kí do chính tay ông viết do NXB Văn nghệ TP HCM xuất bản năm 2005. Ông bảo: "Trong này đã ghi chép đầy đủ và rõ ràng, chi tiết nhất". Tôi mở vào chương "Bao giờ cho đến tháng Mười" và bắt gặp những dòng đầu tiên:

"Tôi bắt tay viết kịch bản "Bao giờ cho đến tháng Mười" xuất phát từ nỗi đau của gia đình tôi, từ nỗi đau của hàng vạn, hàng triệu người có người thân ngã xuống trong chiến tranh. Đó là những điều đã có sẵn trong tôi, không cần phải tìm kiếm đâu xa cả. Chỉ cần tìm hình thức thể hiện nữa thôi. Một lần ngồi trú mưa trên đê, trong quán nước ven đường ở huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, tôi nhìn thấy dưới cánh đồng xa xa, một đoàn người lầm lũi đi trong mưa. Khi đoàn người đến gần, tôi nhận ra đó là một đám tang.

Theo sau chiếc kiệu có bốn người khiêng là một phụ nữ trẻ quấn khăn trắng, dắt một đứa con trai chừng 7 tuổi. Bà con trong quán cho biết chồng chị là bộ đội đi B, hy sinh đã lâu, nhưng bây giờ người ta mới báo tin cho gia đình biết và làm lễ rước hương hồn người chiến sĩ về yên nghỉ tại nghĩa trang của làng. Còn anh đang nằm ở đâu trên chiến trường miền Nam, đến bây giờ không ai biết. Người phụ nữ chít khăn tang đi dưới chiều mưa hôm ấy chính là chị Duyên sau này trong bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười".

Cảnh trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”.
Cảnh trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”.

Mở đầu phim là cảnh chị Duyên về làng sau khi vào Nam thăm chồng về. Nhưng chồng chị đã không còn nữa. Anh đã hy sinh trong một trận chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Vì nỗi đau quá bất ngờ, vì đường xa mệt nhọc nên khi qua đò chị đã bị ngất đi, rơi xuống sông. May có Khang, một giáo viên trong làng đi cùng đò đã nhảy xuống sông vớt được chị. Khang cũng vớt lên được tờ giấy báo tử của chồng Duyên nên anh trở thành người đầu tiên biết cái tin này. Nhưng Duyên lại muốn giấu kín tin dữ đó, chị không muốn làm cho bố chồng đang già yếu phải đau buồn.

Chị đã nhờ Khang viết những lá thư giả để làm yên lòng những người trong gia đình chồng, một tình tiết có thật trong đời sống mà tôi từng được nghe. Mối quan hệ thầm kín của hai người bắt đầu từ đó. Cảm động trước sự hy sinh, chịu đựng và nỗi mất mát của Duyên, Khang đem lòng yêu mến cô, muốn được thay thế người đã mất, lo toan hạnh phúc cho cô và đứa con lên bảy tuổi. Anh viết thư bộc lộ những tình cảm đó với Duyên.

Không may bức thư lọt vào tay bà chị dâu và câu chuyện vỡ lở khắp làng. Khang mang tiếng là người yêu phụ nữ có chồng là bộ đội đang chiến đấu ở xa. Anh bị điều đi dạy ở nơi khác. Còn Duyên vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau cho đến một ngày ông bố chồng sắp hấp hối bắt cô phải đánh điện xin cho chồng về.

Thấy Duyên chần chừ, đứa con trai lên bảy đã tự ý lên bưu điện huyện để đánh điện cho bố. Giữa đường nó xin đi nhờ một xe Commanca chở bộ đội. Những người lính trên xe biết rõ sự tình bèn đánh xe quay về làng. Khi họ về đến làng, đứng bên giường của bố chồng Duyên thì cũng vừa lúc cụ trút hơi thở cuối cùng sau khi tin rằng con trai mình đã về. Mọi người trong làng bây giờ mới biết rằng chồng Duyên đã hy sinh, họ không còn hiểu lầm Khang nữa, nhưng anh đã đi rồi. Bây giờ Duyên lại mong tin anh, mong anh trở lại... Ngày khai giảng, cô đưa con đến trường và hỏi thăm tin anh.

Kịch bản "Bao giờ cho đến tháng Mười" được Cục Điện ảnh thông qua một cách nhanh chóng không gặp trắc trở gì, chỉ yêu cầu không được để thầy giáo Khang yêu cô Duyên. Nhưng đối với tôi, không có mối quan hệ đó thì còn gì là phim. Chấp hành ý kiến của Cục, tôi chỉ làm nhẹ mối quan hệ đó thôi chứ không bỏ hẳn.

Hãng phim cử cho tôi một chủ nhiệm phim chưa làm chủ nhiệm chính một phim bao giờ và phân cho tôi một máy quay phim Côn-vát cũ của Liên Xô chất lượng rất kém, đến nỗi trong lúc quay phá hỏng không biết bao nhiêu thước phim, buộc tôi phải quay đi quay lại nhiều lần. Không chịu được nữa, tôi bèn tự đi mượn một máy quay của Viện Sốt rét ký sinh trùng và côn trùng (nơi cha tôi trước kia làm Viện trưởng) để quay nốt nửa phim còn lại.

Đây là chiếc máy quay Côn-vát do Liên Xô viện trợ cho Viện để quay các phim giáo khoa về phòng chống sốt rét. May thay nó còn rất mới vì ít được dùng tới. Trong lúc đang quay giữa chừng, nhà quay phim Nguyễn Lân (vốn là giảng viên quay phim của Trường Điện ảnh được hãng mời sang quay cho phim này) bỗng nhiên thông báo sẽ đi Campuchia để giảng dạy trong 1 tháng (những ngày ấy được đi Campuchia là một dịp may, ít ai từ chối).

Không thể dừng cả đoàn chờ đợi được, tôi quyết định sẽ làm việc với phó quay phim Phạm Tiến Đạt. Ông Lân biết vậy, tuyên bố với Giám đốc Hải Ninh rằng sau khi đi Campuchia về sẽ không quay lại đoàn phim nữa. Giám đốc Hải Ninh tức tốc vào đoàn phim yêu cầu ngừng quay, không chấp nhận phó quay phim Phạm Tiến Đạt làm quay chính.

Nhưng khi vào tới nơi, thấy tôi vẫn bình tĩnh làm việc với Đạt, công việc vẫn tiến hành đều đặn, ông trở về và vài hôm sau cử nhà quay phim Nguyễn Đăng Bẩy xuống đoàn để phụ giúp. Vậy là trong phim này thực chất có 3 quay phim với 3 phong cách khác nhau khiến tôi phải vất vả rất nhiều để giữ sự thống nhất trong các cảnh quay.

Tôi đã mời nữ diễn viên Lê Vân vào vai chính của phim, để rồi từ đó tên tuổi của cô gắn liền với hình ảnh chị Duyên, người vợ liệt sĩ, tiêu biểu cho hàng vạn, hàng triệu phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Trước đó Lê Vân đã xuất hiện trong một vài phim nhưng để lại ấn tượng nhất cho khán giả đến nay vẫn là vai Duyên trong phim "Bao giờ cho đến tháng Mười".

Người làm nhạc cho phim này là nhạc sỹ Phú Quang. Hồi ấy anh còn trẻ lắm, vừa mới tốt nghiệp khoa sáng tác Trường Âm nhạc và chưa từng làm nhạc phim bao giờ.

Tôi biết anh là nhờ chị Phương Chi, bạn của vợ tôi, giáo viên piano ở trường giới thiệu. Anh đánh cho tôi nghe những giai điệu đầu tiên sáng tác cho phim trên chiếc piano trong căn hộ chật hẹp chỉ vừa đủ kê một chiếc đàn và một chiếc giường đôi ở trong ngõ Văn Chương, Hà Nội. Anh đã rung động thực sự khi làm nhạc cho phim này, do đó âm nhạc của anh đã đi vào phim rất ngọt ngào, nâng sức truyền cảm của hình ảnh lên rất nhiều. Đến bây giờ tôi vẫn tiếc một điều, giá anh sử dụng thêm nhạc cụ dân tộc thì có lẽ chất dân gian sẽ còn đậm đà hơn.

Khi bộ phim hoàn thành, Giám đốc Hải Ninh xem xong yêu cầu cắt bỏ trường đoạn chợ âm dương với lý do mê tín dị đoan. Đây là một trong những trường đoạn tâm đắc nhất của tôi trong phim này, nó đến với tôi không phải tình cờ. Từ lâu tôi có đọc trong kho tàng truyện cổ Việt Nam có một truyện làm tôi hết sức chú ý. Đó là câu chuyện về đôi vợ chồng trẻ, không may người chồng bị chết một cách oan ức. Anh báo mộng dặn chị chờ đến phiên chợ Mạch Ma thì đến để anh gặp.

Tại phiên chợ đó hai người đã gặp được nhau. Người chồng đã nói rõ sự oan ức của mình để chị vợ kêu lên cửa quan. Truyện còn ghi rõ chợ Mạch Ma ấy nằm ở Quảng Yên. Một lần trên đường đi Hạ Long, khi qua bến phà Rừng, xe dừng lại ở Quảng Yên và tôi bàng hoàng nhận ra mình đang ngồi uống nước trong chính cái chợ Mạch Ma đó. Sau này lên Hà Bắc, nhà thơ Nguyễn Thanh Kim có cho tôi mượn đọc cuốn “Địa dư chí Hà Bắc”.

Trong sách đó, ở mục “Chợ Hà Bắc” có ghi rõ những thôn nào, xã nào, ngày giờ nào, có những phiên chợ âm dương. Qua hai sự việc trên, tôi nhận ra rằng trong tâm thức của người Việt Nam không có sự cách biệt giữa cõi Âm và cõi Dương, giữa người sống và người chết. Đó là một đặc điểm tâm lý rất Việt Nam. Nhưng Giám đốc Hải Ninh không quan tâm tới điều đó. Ông chỉ sợ cấp trên phê bình là phim mang màu sắc duy tâm huyền bí, tuyên truyền cho mê tín dị đoan.

Trước áp lực của ông, tôi đành nhân nhượng cắt ngắn bớt trường đoạn này, điều làm tôi đau xót vô cùng.(...) Bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười" đã được khán giả trong cả nước đón nhận hết sức nồng nhiệt. Không những thế, nó còn nhận được mối thiện cảm rất lớn của khán giả nước ngoài. Có lẽ đây là một phim truyện đầu tiên của Việt Nam đến được với công chúng ngoài biên giới sau năm 1975.

(…) Bộ phim "Bao giờ cho đến tháng Mười" bắt đầu một cuộc hành trình rất dài qua màn ảnh của rất nhiều quốc gia trên thế giới, mang lại không ít thiện cảm cho đất nước Việt Nam, nền điện ảnh Việt Nam.

Sau này tôi được nghe kể lại buổi chiếu đầu tiên của bộ phim tại Honolulu (Hawaii) vào tháng 11-1985 như sau: “Các thuyền nhân Việt Nam ở Honolulu nghe có một bộ phim của Cộng sản Hà Nội được chiếu kéo đến vây xung quanh rạp với những biểu ngữ phản đối. Trước giờ chiếu 15 phút, cảnh sát nhận được một cú điện thoại báo tin trong rạp bị cài mìn. Lập tức khán giả được mời ra khỏi rạp. Sau một giờ rà soát, cảnh sát xác định tin kia là thất thiệt mới cho khán giả vào lại. Nhiều thuyền nhân cũng vào xem cốt để gây rối trong khi chiếu. Nhưng buổi chiếu đã kết thúc tốt đẹp trong tiếng vỗ tay và những giọt nước mắt đọng trên mi của nhiều người, trong đó có cả những thuyền nhân Việt Nam. Họ xúc động xem từ đầu đến cuối, quên cả dự định từ trước của mình. Đó là những ngày căng thẳng nhất trong quan hệ Mỹ-Việt".

"Bao giờ cho đến tháng Mười" của đạo diễn NSND Đặng Nhật Minh đã được bình chọn là một trong những bộ phim kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam. Năm 2008, CNN đánh giá: "Bao giờ cho đến tháng Mười" là một trong 18 bộ phim châu Á xuất sắc mọi thời đại. Tuần lễ Liên hoan phim Việt Nam tại New Delhi đang diễn ra từ 9-23/5, "Bao giờ cho đến tháng Mười được khởi chiếu từ ngày 13. Đã qua đi nhiều thập kỉ, bộ phim vẫn còn nguyên giá trị và gây ấn tượng mạnh với khán giả.
Trần Mỹ Hiền (theo hồi kí của NSND Đặng Nhật Minh)

Các tin khác

Miền an nhiên giữa đại ngàn Tây Nguyên

Miền an nhiên giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữa những triền đồi lộng gió của vùng đất Đơn Dương, nơi mây trắng lững lờ trôi qua những cánh rừng thông xanh thẳm, Samten Hills Dalat hiện lên là một miền an yên giữa đại ngàn Tây Nguyên. Không ồn ào, không xô bồ như nhiều điểm du lịch khác của xứ lạnh, nơi đây mang đến cho du khách cảm giác như đang bước vào một thế giới khác, tĩnh tại, linh thiêng và đầy chất thơ.

Đạo diễn gạo cội của điện ảnh Hồng Kông làm Trưởng Ban Giám khảo DANAFF IV

Đạo diễn gạo cội của điện ảnh Hồng Kông làm Trưởng Ban Giám khảo DANAFF IV

Đạo diễn Đỗ Kỳ Phong (Johnnie To) - nhà làm phim gạo cội và là người góp công lớn trong việc bảo tồn bản sắc điện ảnh xứ Cảng Thơm, đưa dòng phim thể loại của khu vực này hiện diện tại các liên hoan phim lớn trên thế giới như Cannes, Venice hay Berlin - sẽ làm Chủ tịch Ban giám khảo hạng mục Phim Châu Á dự thi tại Liên hoan phim Châu Á Đà Nẵng lần IV (DANAFF IV).

Ra mắt CNA Creative Arts: Tiên phong định hình ngành công nghiệp Nhạc kịch Việt Nam

Ra mắt CNA Creative Arts: Tiên phong định hình ngành công nghiệp Nhạc kịch Việt Nam

Ngày 15/5, CNA Creative Arts chính thức ra mắt nhằm đáp ứng xu hướng thưởng thức nghệ thuật chất lượng cao và hưởng ứng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia theo Nghị quyết 80/NQ-TW của Bộ Chính trị. Sự kiện đánh dấu bước đi tiên phong trong việc kiến tạo một hệ sinh thái sản xuất, đào tạo và phát triển nhạc kịch chuyên nghiệp mang đậm bản sắc Việt Nam.

Từ U17 World Cup đến giấc mơ World Cup 2034

Từ U17 World Cup đến giấc mơ World Cup 2034

Chiến tích giành vé dự FIFA U17 World Cup 2026 mang đến niềm tự hào lớn cho bóng đá Việt Nam, nhưng phía sau cảm xúc ấy còn là một bài toán dài hạn cho tương lai. Từ một thế hệ cầu thủ trẻ giàu tiềm năng đến mục tiêu World Cup 2034 sẽ là hành trình kéo dài gần một thập kỷ, nơi tài năng chỉ mới là điểm khởi đầu. Điều quan trọng hơn cả là tạo ra một môi trường đủ tốt để những “viên ngọc thô” được trưởng thành, được thi đấu và đủ bản lĩnh tồn tại ở đỉnh cao bóng đá chuyên nghiệp.

Khu trải nghiệm Lumora Hải Phòng: Giữ lại tuổi thơ giữa những khoảng xanh

Khu trải nghiệm Lumora Hải Phòng: Giữ lại tuổi thơ giữa những khoảng xanh

Giữa nhịp sống đô thị ngày càng chật chội và sự phụ thuộc ngày một lớn vào thiết bị điện tử, nhiều gia đình ở Hải Phòng đang tìm đến những không gian trải nghiệm xanh để con trẻ được vận động, khám phá thiên nhiên. Ở Lumora, những đứa trẻ lội bùn bắt cá, tự tay hái rau, chạy chân trần trên cỏ, người lớn tìm lại cảm giác thư thái sau guồng quay công việc.

Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm

Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm

Đó là chủ đề của lễ hội làng Dương Nỗ (phường Dương Nỗ, TP Huế) do Sở Văn hóa và Thể thao (VH-TT) TP Huế tổ chức chào mừng nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) và Festival mùa Hạ Huế năm 2026.

“True Concert -Tình Đất” kể chuyện thiên nhiên bằng âm nhạc và cảm xúc

“True Concert -Tình Đất” kể chuyện thiên nhiên bằng âm nhạc và cảm xúc

Với chủ đề “Đất”, “True Concert 2026 - Tình Đất” diễn ra tối 14/5/2026 tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), để lại nhiều dư âm về một đêm diễn được đầu tư chỉn chu, dàn dựng công phu. Bằng âm nhạc, ê kíp đã kể cho khán giả câu chuyện về sự sống, thiên nhiên và mối gắn bó bền chặt giữa con người với cội nguồn.

Sôi động Gala “Tổ quốc bình yên – Hải Phòng rực sáng”

Sôi động Gala “Tổ quốc bình yên – Hải Phòng rực sáng”

Tối 14/5, tại TP Hải Phòng, Công an TP Hải Phòng tổ chức Gala nghệ thuật – chính luận mang chủ đề “Tổ quốc bình yên – Hải Phòng rực sáng”. Đây là điểm nhấn trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 71 năm Ngày Giải phóng Hải Phòng, phát động hưởng ứng cuộc thi sáng tạo video clip “Tổ quốc bình yên” do Bộ Công an triển khai.

Chiến dịch truyền thông “Tôi yêu Tổ quốc tôi" 2026 kỳ vọng đạt 700 triệu lượt tiếp cận

Chiến dịch truyền thông “Tôi yêu Tổ quốc tôi" 2026 kỳ vọng đạt 700 triệu lượt tiếp cận

Thông qua Hành trình và Chiến dịch truyền thông “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam mong muốn tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ hình ảnh thanh niên Việt Nam yêu nước, đoàn kết, bản lĩnh, sáng tạo, tiên phong cống hiến; đồng thời khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

Triển lãm “80 năm Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Triển lãm “80 năm Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Triển lãm “80 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” là hoạt động chính trị, văn hóa nhằm tưởng nhớ và tôn vinh giá trị lịch sử trường tồn của Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh; khẳng định tầm vóc tư tưởng, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng và dân tộc Việt Nam trong thời khắc lịch sử đặc biệt của đất nước.

PSG vô địch Ligue 1 lần thứ 14 trong lịch sử

PSG vô địch Ligue 1 lần thứ 14 trong lịch sử

Rạng sáng 14/5 theo giờ Việt Nam, CLB Paris St Germain (PSG) đã chính thức bảo vệ thành công chức vô địch Ligue 1 mùa giải 2025/2026 sau chiến thắng 2-0 trên sân của Lens, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế thống trị tại bóng đá Pháp.

Cục Thể dục Thể thao Việt Nam lên tiếng về quy trình tuyển chọn đội tuyển cờ vua dự Olympiad 2026

Cục Thể dục Thể thao Việt Nam lên tiếng về quy trình tuyển chọn đội tuyển cờ vua dự Olympiad 2026

Sau những tranh cãi liên quan đến danh sách đội tuyển cờ vua Việt Nam tham dự Olympiad 2026 (giải vô địch đồng đội cờ vua lớn nhất thế giới do Liên đoàn Cờ vua Thế giới (FIDE) tổ chức định kỳ 2 năm/lần), Cục Thể dục Thể thao Việt Nam khẳng định, việc lập nhóm Zalo chỉ là bước rà soát ban đầu của Liên đoàn Cờ vua Việt Nam, chưa phải quyết định tuyển chọn chính thức đội tuyển quốc gia.

Nghệ sĩ Ưu tú không tham gia Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương toàn quốc

Nghệ sĩ Ưu tú không tham gia Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương toàn quốc

Cá nhân đã được phong danh hiệu từ Nghệ sĩ Ưu tú trở lên không được tham gia Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương toàn quốc năm 2026. Thí sinh không diễn, thi lại các trích đoạn, tiểu phẩm mà bản thân đã từng đoạt giải trong các Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tổ chức.

Thi phim ngắn về Quốc Tử Giám: Lan tỏa những câu chuyện hiền tài xưa nay

Thi phim ngắn về Quốc Tử Giám: Lan tỏa những câu chuyện hiền tài xưa nay

Cuộc thi phim ngắn “Hiền tài hôm nay” do Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức nhân kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám - Trường Đại học/Quốc học đầu tiên của Việt Nam (1076-2026).

Cảnh báo nhiều dự án thi công không an toàn, gây tai nạn nghiêm trọng tại Đà Nẵng

Cảnh báo nhiều dự án thi công không an toàn, gây tai nạn nghiêm trọng tại Đà Nẵng

Đà Nẵng đang bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng, chỉnh trang đô thị với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn mọc lên giữa lòng phố biển. Nhưng phía sau nhịp thi công ngày đêm ấy, những vụ sập tường, gãy cẩu tháp, công nhân tử vong dưới cống sâu hay rơi từ tầng cao liên tiếp xảy ra thời gian gần đây đang gióng lên hồi chuông báo động về an toàn lao động.