Nỗi ám ảnh vũ khí sinh hóa của Mỹ ở chiến trường Việt Nam

Hầu như tất cả những ai đã từng sinh sống ở Tây Ninh vào thời điểm 1976 đều biết sự kiện nhân dân toàn tỉnh đột ngột bị sặc vì không khí đậm đặc mùi cay như ớt. Sau đó vài tháng, một trận dịch ghẻ bùng phát khắp nơi.

Từ Tây Ninh, dịch ghẻ lan sang các tỉnh lân cận rồi tỏa ra toàn quốc. Một số người thiếu hiểu biết cho rằng, bộ đội Trường Sơn đã mang sơn lam chướng khí từ rừng sâu xâm nhập vào thành thị tạo nên trận dịch ghẻ ấy...

Trận dịch và những thùng hóa chất trên lưng chừng núi

Các đơn vị phòng chống dịch bệnh, các cơ sở y tế toàn quốc đã chống chọi với nạn dịch này rất chật vật. Bộ Y tế đã nhanh chóng tung ra những loại thuốc đặc trị ghẻ ngoài da cho bệnh nhân rất hiệu quả. Thế nhưng chỉ khỏi bệnh một thời gian ngắn, bệnh nhân lại tái nhiễm.

02.jpg -0
Trạm ra đa, sân bay dã chiến và kho vũ khí sinh hóa của quân đội Mỹ trên đỉnh núi Bà Đen năm 1967 (Ảnh tài liệu của cựu binh Mỹ).

Người dân chấp hành nghiêm túc khuyến cáo của ngành y tế về 3 diệt: Diệt ao tù, diệt khuẩn nơi ở và công sở, diệt mầm bệnh thân thể. Nhiều chiến dịch phun thuốc khử khuẩn được thực hiện khắp nơi nhưng vẫn không ngăn chặn được trận dịch tai quái. Bởi vì ngành y tế không tìm được xuất xứ của dịch ghẻ.

Hầu như gia đình nào cũng thuộc lòng vài bài thuốc cổ truyền tự trị bệnh ghẻ nhưng vẫn không ngăn được làn sóng “ghẻ ngứa toàn dân”.

Tết năm 1983, bỗng dưng toàn tỉnh Tây Ninh lại ngộp thở sặc sụa bởi trong gió lại xuất hiện mùi cay nồng. Nhiều người hít phải “gió độc” lăn ra ngất xỉu. Có ngày, khoa cấp cứu bệnh viện tỉnh bị quá tải do bệnh nhân sặc gió nhập viện liên tục. Lần tái xuất này, “gió độc” âm ỉ suốt vài tháng.

Thiếu tướng Ngô Quang Nghĩa, thời điểm đó là Đại tá - Trưởng ty Công an tỉnh Tây Ninh, đã cử một tổ công tác đi tìm nguyên nhân. Sau một thời gian dò la thông tin, tổ công tác phát hiện luồng “gió độc” phát tán từ núi Bà Đen.

Đi sâu vào điều tra, tổ công tác tìm được chính xác vị trí phát tán “gió độc”. Đó là một thung lũng nằm phía sau Điện Bà ở lưng chừng 1/3 ngọn núi. Phía dưới thung lũng có hàng chục thùng kim loại hình trụ tròn, đường kính hơn nửa mét, chiều cao hơn 1 mét. Những chiếc thùng bị vỡ khiến một loại bột màu cháo lòng tràn ra ngoài, theo nước mưa chảy xuống lòng suối.

Nguyên nhân các thùng chứa bị vỡ được xác định như sau: Tết năm 1976, người dân viếng điện Bà Đen đã mò ra con suối dưới thung lũng nghỉ ngơi, ăn uống trước khi xuống núi. Một số thanh niên phát hiện một mép thùng sắt chôn dưới đất lộ ra. Nghĩ là kho báu, họ đã khai quật lên. Khi mở thùng sắt, hơi cay đã khiến  một người ngất tại chỗ. Những người cùng nhóm khiêng người bị nạn xuống núi, không rõ sống chết. Sau vài cơn mưa, chất bột trong thùng trôi hết xuống suối. Đoạn suối này là thượng nguồn của suối Vàng dưới chân núi. Mỗi khi mưa lớn, nước từ suối Vàng tràn bờ lan ra khắp khu vực rộng.

Tết năm 1983, người dân đi viếng Điện Bà lại mở hầm chứa các thùng kim loại. Lần này, người mở hầm làm nghề phế liệu. Họ đã đào hết “kho báu”. Trong “kho báu”, ngoài những chiếc thùng kim loại còn có thịt hộp và mìn.

Với người thường, mìn là cơn ám ảnh, nhưng với những người rà phế liệu thì đó là “vàng rầm”. Họ “tịch thu” tất cả những gì tìm thấy. Riêng các thùng hóa chất, họ dự tính đưa xuống núi rồi mới mở. Họ nghĩ bên trong chứa thứ gì đó bán được, có thể là thuốc súng. Tuy nhiên, do các thùng quá nặng, đường núi gồ ghề hoang sơ mà phương tiện vận chuyển chỉ là sức người. Loay hoay mấy ngày, cuối cùng họ chọn giải pháp mở thùng. Ngay nhát cưa đầu tiên họ đã nhận ra sự bất ổn khi hương vị không dễ chịu thoát ra từ thùng. Thế là họ mở thùng bằng cách hè nhau đẩy thùng rơi xuống mỏm đá phía dưới. Tất nhiên là chiếc thùng kim loại vỡ toác. Cả nhóm bất tỉnh.

04.jpg -0
Bức ảnh mô tả vị trí kho chứa vũ khí “bí mật” tại căn cứ quân đội Mỹ trên đỉnh núi năm 1968 (Ảnh tài liệu của cựu binh Mỹ).

Nhóm người chuyển “chiến lợi phẩm” chuyến đầu tiên trở lại vị trí “kho báu” đã hoảng vía khi trông thấy đồng bọn sùi bọt mép đã nhanh chóng cõng hết xuống núi và mất dấu tích.

Mỗi lần có mưa, chất bột màu cháo lòng có dịp trôi xuống chân núi tỏa mùi ngộp thở khắp tỉnh.

Vụ việc được báo cáo nhanh về Tỉnh ủy. Thời điểm đó, chiến tranh biên giới vẫn còn gay gắt nên Tỉnh ủy không xem chuyện phát hiện kho vũ khí gì đó của quân đội Mỹ còn sót lại. Cũng không ai liên tưởng nạn dịch có liên quan với những thùng hóa chất này.

Vị chỉ huy Công an sang Tỉnh đội mượn một tiểu đội công binh phối hợp giải quyết. Những thùng hóa chất được đưa xuống một khe sâu rồi phóng hỏa bằng chất đốt.

Không ngờ, sau đó, dịch ghẻ tan dần rồi chấm dứt hẳn vào năm 1989.

Sau này, nhiều tài liệu của Chính phủ Mỹ và một số chuyên gia nghiên cứu chiến tranh quốc tế được công bố. Những tài liệu này có những bằng chứng đáng tin cậy đã khẳng định, quân đội Mỹ bất chấp công ước quốc tế, sử dụng vũ khí sinh hóa tại chiến trường Việt Nam.

Những toán đặc nhiệm sinh hóa trong quân đội Mỹ

Trong bài viết Vietnam: The chemical war, đăng trên New York Time phát hành ngày 24-11-2017, Giáo sư chuyên ngành Lịch sử và Chính sách Công tại Đại học California, ông David Biggie đã công bố sự chứng kiến của mình về một đơn vị thuộc lực lượng chiến đấu sinh hóa mang phiên hiệu 266 đi tấn công đối phương bằng vũ khí sinh hóa.

Chính xác đó là ngày 18-11-1967. Hôm đó, họ nhận mệnh lệnh trực tiếp từ Bộ chỉ huy Thái Bình Dương yêu cầu yểm trợ Sư đoàn Anh Cả Đỏ (Sư đoàn 1) trong cuộc hành quân “Hòn đá vàng” (chiến dịch Juntion City) vào hướng Bắc Sài Gòn, tức tỉnh Tây Ninh - Nơi đặt các cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Đơn vị 266 phải chuẩn bị 15 quả bom hóa chất da cam phát hoang, 48 quả bom phốt pho, 24 quả bom hơi cay CS và một số quả bom tem nhãn được cho là vũ khí sinh học được lưu kho từ chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1952).

Năm 1950, quân đội Mỹ đã từng sử dụng loại vũ khí sinh học này thả vào Bắc Triều Tiên gây bệnh ngoài da và nấm hại lúa.

05.jpg -0
Kho vũ khí hóa chất của quân đội Mỹ tại Đà Nẵng năm 1968

Để các loại vũ khí hóa học này tiếp cận nhanh vùng chiến sự nhưng vẫn đảm báo bí mật, tránh sự dòm ngó của báo chí, đơn vị 266 được trực thăng vận CH-47 đưa người lẫn “hàng hóa” lên đỉnh núi Bà Đen lưu kho tại sân bay dã chiến.

Vì sao quân đội mỹ giữ bí mật sử dụng vũ khí sinh hóa với báo chí?

Đi ngược quá khứ, vào năm 1915, quân đội đế quốc Đức đã chiến thắng bạo tàn khi sử dụng 1 loại bom hóa chất gây ngạt tấn công quân đội Pháp tại chiến trường Ypres, Bỉ. Hàng trăm binh lính Pháp bị nhiễm độc thiệt mạng.

Thấy được sự hiệu quả tàn sát địch quân của hóa chất, các quốc gia Anh, Nga, Áo, Hung, Mỹ và Italy đã chạy đua nghiên cứu và sản xuất hàng loạt vũ khí hóa học.

Một nghiên cứu đã xác định có ít nhất 124.000 tấn bom hóa học được các quốc gia sản xuất trong suốt Thế chiến I.

Năm 1918, quân đội Mỹ thành lập Đơn vị Chiến tranh Hóa học (Chemical Warfare Service).

Năm 1925 tại Hội nghị Geneva về Giám sát Vận chuyển Vũ khí Quốc tế, Pháp đã đề xuất một nghị định thư về cấm sử dụng khí độc. Ba Lan đề xuất bổ sung các vũ khí sinh học vào các điều khoản nhưng không được quan tâm. Ngày 17-6-1925, Nghị định thư Geneva ra đời, tuyên bố cấm sử dụng khí gây ngạt, khí độc trong chiến tranh, được 38 quốc gia cùng ký kết. Mỹ không ký.

Mỹ vẫn duy trì đơn vị tác chiến hóa học. Để che mắt quốc tế, vào năm 1943, quân đội Mỹ đã mở một phòng thí nghiệm vũ khí hóa học và sinh học tại Fort Detrick, Maryland để tập trung hóa công tác nghiên cứu. Đến năm 1947, quân đội Mỹ đổi tên Đơn vị Chiến tranh Hóa học thành Đơn vị nghiên cứu Hóa học (Chemical Corps) để che giấu mùi chiến tranh. Đối với công luận, đơn vị này “chỉ nghiên cứu tác hại của hóa học và vệ sinh dịch tễ trong môi trường đóng quân”.

Thật ra, bộ phận “nghiên cứu tác hại hóa học” vẫn tiếp tục phát triển và sản xuất các loại vũ khí hóa học như bom Napal, hơi cay CS và “chất khai hoang”. Bộ phận nghiên cứu sinh học thì tiếp tục nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm “virus xâm nhập”. Sản phẩm bom sinh học đã được thử nghiệm tính hiệu quả khi tung vào Triều Tiên năm 1950.

Đơn vị 266 chỉ là một trong số hàng trăm đơn vị tác chiến sinh hóa trực thuộc Chemical Corps. Một đội đặc nhiệm này thường chỉ có quân số tương đương một trung đội, được huấn luyện chiến đấu theo mô hình combat support, tức hoạt động độc lập hỗ trợ tác chiến.

Khi mở màn một chiến dịch, đơn vị sinh hóa này sẽ được không quân đón tại một kho chứa bí mật đưa vào mục tiêu.

Trước những cánh rừng trụi lá dọc dải Trường Sơn do bom hóa học tàn phá mà chính quyền Mỹ giải thích rằng, đó là chất khai hoang, các phái đoàn quốc tế vào cuộc điều tra. Trong những cuộc điều tra, các phái đoàn còn nhận thấy, không chỉ có bom hóa học tiêu diệt sinh thái mà còn có những loại bom gây ngạt CS, và các loại bom gây cháy Napal. Bức ảnh “Em bé Napal” của phóng viên Nick Ut là bằng chứng không thể chối cãi về các loại vũ khí hóa học mà Nghị định thư Geneva năm 1925 đề cập.

Cho đến tận bây giờ, trên các tảng đá lớn ở núi Bà Đen Tây Ninh vẫn còn nhiều vệt bom Napal hiện rõ dù quá khứ chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ.

Năm 1966, tại bàn tròn Liên Hợp Quốc, đại biểu Hungary đã đưa ra các bằng chứng tố cáo Mỹ đã vi phạm trắng trợn Nghị định thư Geneve 1925 tại Việt Nam. Báo chí và dư luận quốc tế đổ dồn sự quan tâm vào Mỹ. Những cánh rừng trụi lá vì bom hóa học, những làng mạc và những tử thi bốc cháy bởi bom Napal, những luồng hơi ngạt tỏa khắp các thôn xóm Nam Việt Nam thi nhau lên trang nhất các mặt báo quốc tế và các màn hình tivi. Các cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam bắt đầu manh nha xuất hiện.

Richard Nixon vừa mới đắc  cử Tổng thống đành phải đề xuất Thượng viện phê chuẩn ký kết Nghị định thư Geneva 1925 đồng thời hứa sẽ đảm bảo không sử dụng các loại vũ khí hóa học ở Việt Nam, trừ bom Napal. Động thái này dẫn đến việc ngày 10-4-1972, Mỹ cùng Anh và Liên Xô cùng ký một công ước về Tiêu hủy và cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí sinh học. Bổ sung cho Nghị định thư Geneva chỉ cấm vũ khí hóa học. Công ước này có hiệu lực ngày 26-3-1975, sau khi có 22 nước tham gia

Trở lại đầu câu chuyện. Đơn vị đặc biệt 266 hoàn tất việc tập kết các loại vũ khí sinh hóa đúng vào thời điểm Nixon tuyên bố giải trừ loại vũ khí này. Lúc này, những thùng bom khai hoang đã được tung hết vào các cánh rừng khu vực Trung ương Cục. Những thùng sinh học vẫn đang chờ lệnh tung vào vùng hậu cứ đối phương. Nhiệm vụ của các thùng sinh học là tạo ghẻ da cho những chiến sỹ cách mạng. Dịch ghẻ sẽ làm giảm sức chiến đấu của họ, mặt khác, những người trong căn cứ đột nhập vào vùng kiểm soát của chế độ Sài Gòn sẽ dễ bị phát hiện bởi bệnh ghẻ ngứa.

Tháng 11-1969, Richard Nixon ký quyết định hủy bỏ mọi chương trình phát triển vũ khí. Đơn vị Chemical Corps được cải hoán thành cơ quan dân sự chỉ đơn thuần nghiên cứu về an toàn sinh học và miễn dịch.

Đơn vị đặc nhiệm 266 được lệnh tiêu hủy vật chứng chiến tranh sinh hóa. Những người lính mỏi mệt vì chiến tranh nên đã tiêu hủy bằng cách địa táng.

Sau nhiều năm mưa gió, những vật chứng đó dần dà ngoi lên mặt đất tạo thành cơn dịch ghẻ ngứa cho dân lành vào năm 1976.

Nông Huyền Sơn

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.