Từ đầu năm 1974, Trung ương Cục miền Nam đã gấp rút chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy. Tại Bảy Bàu (Tây Ninh), Trung ương Cục tổ chức nhiều khóa huấn luyện cán bộ cơ sở trẻ. Trung ương Cục cũng tổ chức rất nhiều đoàn ra miền Bắc xin chi viện nhân lực, vũ khí, khí tài và tuyển chọn người gửi ra Bắc học chế tạo, học sử dụng mìn hẹn giờ, chất nổ, dây cháy chậm v.v… Rất nhiều hàng hóa của bạn bè quốc tế gửi cho nhân dân miền Nam thông qua Ban Thống nhất của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được chuyển về Trung ương Cục. Hiện nay tôi còn giữ được một chiếc radio của Đảng Cộng sản Nhật Bản viện trợ. Ban An ninh được chia vài chục cái phân đều cho các tiểu ban.
Bộ Chính trị đã có chủ trương quyết giải phóng miền Nam trong 2 năm (1975 - 1976), sau khi ta có tin tình báo khẳng định Mỹ không dám quay trở lại chiến trường Việt Nam. Tháng 3/1975, ta đánh trận khởi đầu tại Ban Mê Thuột. Thiệu phải rút quân chạy. Trong việc Thiệu "di tản chiến thuật" một số người cho rằng Thiệu "làm nư" với Mỹ. Điều đó không đúng. Lúc đó, Quốc hội Mỹ đã bóp hầu bao chi viện nên quân của Thiệu thiếu vũ khí. Thiệu rút quân co cụm về gần Sài Gòn, thu hẹp chiến trường để tiết kiệm chi phí chiến tranh. Thiệu không ngờ quân đội của ông ta hoang mang tinh thần nên rệu rã nhanh.
Khi ta đánh sập phòng tuyến Phan Rang của Nguyễn Vĩnh Nghi - Trung tướng VNCH - thì anh Lê Duẩn và Bộ Chính trị nhận định: Ta sẽ giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975.
Ngày 9/4/1975, anh Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị vào Nam chủ trì một cuộc họp quan trọng gồm các lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Tại cuộc họp này, anh Lê Đức Thọ công bố quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Đến ngày 14/4/1975, Bộ chỉ huy chiến dịch này đổi tên thành Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Anh Phạm Hùng giữ vai trò Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch. Để giúp việc cho anh Phạm Hùng vừa hoàn thành nhiệm vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam vừa đảm nhiệm tốt vai trò Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, một bộ phận phục vụ trực tiếp được thành lập gồm: 1 tổ bảo vệ, 1 xe thông tin công suất 150W gồm những kỹ thuật viên giỏi.
Ngày 12/4/1975, tại Xa Mát (biên giới Tây Ninh), Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết thành lập Ủy ban Quân quản do anh Trần Văn Trà làm chủ tịch. Có nhiều tiểu ban gồm: tuyên huấn, kinh tài, thương nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp… Mỗi tiểu ban có nhiệm vụ tiếp quản cơ quan đầu não tương ứng của địch. Tiểu ban An ninh Nội chính thì do anh Cao Đăng Chiếm phụ trách. Theo kế hoạch thì khi xuống tới Sài Gòn mà địch đầu hàng thì kéo thẳng vô tiếp quản, không thì đánh vô chiếm lĩnh mục tiêu đã phân công là Tổng nha Cảnh sát.
Anh Hai An (tức Nguyễn Hòa) đang nằm trong Ban "liên hiệp bốn bên" ở trại David được rút về căn cứ vào ngày 21/4/1975 để làm Trưởng tiểu ban An ninh Nội chính. Các phó ban gồm: anh Tư Hoàng, anh Bùi Thiện Ngộ và tôi.
Từ ngày 21/4, tại Bảy Bàu, cánh chúng tôi cho máy nổ chạy đèn thắp sáng để làm việc cả ngày lẫn đêm. Tôi điều hành bộ phận nhà máy in phiếu trình diện, truyền đơn, băng đeo tay. Thấy anh em trong bộ phận ăn mặc không được chỉn chu, tôi sang Bộ Tư lệnh Miền xin quân trang, vũ khí mang về trang bị. Lệnh được ban hành là tất cả mọi người đều mặc đồ bộ đội tươm tất trước khi vào Sài Gòn.
Ngày 22/4/1975, anh Lê Duẩn đã điện chỉ đạo Bộ Tư lệnh chiến dịch: "Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không thể để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi về chính trị, quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn...".
Ngày 23/4/1975, Quân đoàn 2 mở cuộc tiến công giải phóng thị xã Hàm Tân và toàn tỉnh Bình Tuy, áp sát lực lượng vào Biên Hòa. Theo kế hoạch của Bộ Chỉ huy chiến dịch, ngày 27/4/1975, các hướng sẽ đồng loạt tiến công địch, chiếm bàn đạp ven đô. Tuy nhiên, lúc 17 giờ ngày 26/4/1975, Quân đoàn 2 đã nổ súng tấn công tuyến phòng thủ của địch ở hướng đông và đông nam, đánh chiếm Trường huấn luyện thiết giáp; Căn cứ Nước Trong, Chi khu Long Thành, vượt đường số 15, giải phóng Phước Thường, bao vây Long Tân, đánh chiếm Chi khu Đức Thạnh. Quân đoàn 4 đánh chiếm Chi khu Trảng Bom, diệt và làm tan rã Lữ dù 3, Lữ thủy quân lục chiến 468...
Ngày 26/4/1975, theo sự phân công của Ban Thường vụ Trung ương Cục, anh Phạm Hùng và anh Cao Đăng Chiếm kéo hết các tiểu ban về khu vực Cầu Xe để cùng đội hình của Quân đoàn 3 tiến về Sài Gòn. Nhưng vì lý do nào đó, anh Võ Văn Kiệt không bắt được tín hiệu liên lạc của Quân đoàn 3. Lúc này, anh Võ Văn Kiệt cùng bộ phận đã đến xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh dừng chân ở đó.
8h sáng ngày 29/4/1975, cánh chúng tôi kéo quân ra cây số 25, tỉnh lộ 4 ở tại Bàu Châu É, thuộc xã Tân Hưng (ngày nay thuộc huyện Tân Châu, Tây Ninh) chờ đợi. Anh Sáu Huấn, anh Ba Bên kéo 2 đại đội dẫn đường. Khoảng 500 xe gồm commăngca, xe Jin ùn ùn chạy rất khí thế. Trong lòng ai cũng nôn nao một cảm giác khó tả.
Lúc 10 giờ, chúng tôi đã xuống tới Bàu Châu É rồi tiếp tục hành quân qua Đồng Sầm, Trại Đèn ở Phước Ninh rồi theo đường xe tăng cắt thẳng vô Bến Củi lúc 17h.
Dù không liên lạc được với Quân đoàn 3 nhưng anh Cao Đăng Chiếm vẫn ra lệnh: 4h sáng mọi người thức dậy nấu cơm vắt rồi hành quân luôn.
4h sáng ngày 30/4, chúng tôi hành quân qua cầu Bến Sắn, cắt xuống Bời Lời ra Cầu Xe. Ban An ninh đi đầu đoàn quân quản. Đến 7 giờ sáng chúng tôi tới Cầu Xe dừng lại giấu xe vào rừng chồi.
Chúng tôi tổ chức một tổ trinh sát giao anh Ba Bên chỉ huy thọc vô Trảng Bàng (Trảng Bàng mới giải phóng đêm 29) đi xuống Bà Quẹo (Tân Bình). Tổ trinh sát này vừa đi vừa giải phóng luôn các địa điểm nằm trên đường đi. Khi đi tới Bà Quẹo họ quay trở về. Họ về chưa tới thì 11h30’, anh Bùi Thiện Ngộ nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh. Anh Bùi Thiện Ngộ báo cáo ngay cho anh Cao Đăng Chiếm biết. Anh Cao Đăng Chiếm hồ hởi lệnh cho anh em lên xe rồi hành quân cấp tốc. Đoàn ra lộ 6, lộ 1 tiến thẳng xuống Sài Gòn. Khi tới Quang Trung, chúng tôi thấy xe thiết giáp của địch vẫn còn đang cháy nghi ngút khói. Hóa ra quân ta vừa dứt điểm Quang Trung xong. Súng đạn, quần áo của lính VNCH chất đống ven đường đi.
Tiểu ban Quân quản An ninh Nội chính của chúng tôi xuống đến Hóc Môn thì bắt được tần số điện đài với anh Võ Văn Kiệt. Anh cho biết anh và anh Mai Chí Thọ đã vào địa điểm quy định là Trường Petrus Ký rồi. Theo kế hoạch, chúng tôi vào địa điểm Đại học Phú Thọ lúc 18 giờ ngày 30/4/1975 lo cơm nước. Chúng tôi cũng chuẩn bị sẵn cơm vắt.
Anh Cao Đăng Chiếm lấy 1 chiếc commăngca chạy đến Trường Petrus Ký báo cáo với anh Mai Chí Thọ và anh Võ Văn Kiệt rồi vào Dinh Độc Lập (lúc đó Ủy ban Quân quản cũng đã vào Dinh Độc Lập triển khai nhanh kế hoạch tiếp quản.
Khoảng 2h sáng ngày 1/5/1975, anh Cao Đăng Chiếm trở về Đại học Phú Thọ ra lệnh 4h sáng sẽ chiếm lĩnh tiếp quản các mục tiêu đã phân công.
Đến 6h sáng ngày 1/5/1975, chúng tôi đã có mặt tại Tổng nha Cảnh sát. Tại đây, chúng tôi gặp cánh bộ đội từ Long An lên chiếm lĩnh từ chiều qua. Họ không cho chúng tôi vô.
Anh Cao Đăng Chiếm tìm gặp anh Ba Thắng, chỉ huy cánh quân này, đang ở nhà tướng cảnh sát Nguyễn Khắc Bình, yêu cầu anh Ba Thắng bàn giao địa điểm. Anh Ba Thắng ra lệnh cho bộ đội rút ra giao trụ sở Tổng nha Cảnh sát lại cho chúng tôi.
Công tác tiếp quản vị trí đến 8 giờ sáng mới xong. Cánh văn phòng Ban An ninh chiếm lĩnh bộ phận trợ lý hành chính của Tư lệnh Cảnh sát. Cánh bảo vệ chính trị của anh Bùi Thiện Ngộ và anh Ba Hạc thì chiếm lĩnh khu cảnh sát đặc biệt. Cánh anh Ba Thành chiếm lĩnh cảnh sát tư pháp. Hậu cần thì chiếm khu tiếp tế.
Lúc 10 giờ sáng, bỗng dưng các sĩ quan Cảnh sát VNCH ùn ùn kéo vào trình diện.
Hóa ra, từ tối hôm qua (30/4/1975) Ban An ninh T4 đã thông báo trên Đài Phát thanh yêu cầu họ hôm nay ra trình diện. Do ta chưa kịp chuẩn bị nên không thể làm thủ tục trình diện cho họ được. Chúng tôi phải yêu cầu họ trở về nhà chờ thông báo chính thức. Họ lục tục ra về.
Tôi giữ lại một tay thiếu tá cảnh sát ngụy nhà ở đường Trần Bình Trọng. Tôi yêu cầu anh ta dẫn tôi vào các trại giam của cảnh sát đặc biệt, nơi giam giữ tù chính trị để kiểm tra. Tại một trại giam, tôi gặp một chị không chịu thoát ra ngoài như mọi người. Tôi bảo chị: "Giải phóng rồi chị ơi. Tôi là quân Giải phóng nè. Ra ngoài này với tụi tôi". Chị không chịu ra, bảo: "Mấy ông đừng gạt tôi". Chị tưởng tôi là cảnh sát ngụy đánh lừa chị. Chúng tôi đem cơm đến cho chị ăn, chị cũng không chịu ăn. Nhìn ánh mắt lạc thần của chị, tôi biết thần kinh chị không còn bình thường nữa. Tôi phải đem cờ giải phóng đến cho chị xem, chị vẫn không chịu ra. Dỗ mãi chị mới nói cho tôi biết chị tên Tám Đợi - Thường vụ huyện ủy Hòa Thành.
Tôi báo cáo ngay sự việc cho anh Cao Đăng Chiếm. Anh Cao Đăng Chiếm điện báo cho anh Bảy Hải - Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh và anh Sáu Bầu - Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Tây Ninh đến trại giam gặp chị. Gặp người quen chị mới chịu ra khỏi trại giam. Mấy anh xin đón chị về Tây Ninh chăm sóc sức khỏe.
Sau này, qua lời kể của chị, chúng tôi biết được, vài tháng trước, chị đã phát hiện Năm Huỳnh là tình báo CIA cài vào hàng ngũ ta trong vai huyện ủy viên huyện Hòa Thành. Trong một thời gian dài, Năm Huỳnh đã cung cấp nhiều tài liệu quan trọng của ta cho địch. Để giữ tông tích, Năm Huỳnh đã báo cho cảnh sát bắt chị. Trong thời gian giam cầm chị, địch đã tiêm thuốc để chị mất trí nhớ. Mười ngày sau, ta phá được vụ án Năm Huỳnh, giải oan được cho 2 đồng chí trung kiên của ta.
Tháng 2/1976, Ban đại diện Bộ Nội vụ phía Nam được thành lập do anh Trần Quyết làm Trưởng ban. Anh Cao Đăng Chiếm và anh Ba Hương làm Phó ban. Anh Huỳnh Việt Thắng và một anh tên Đồng làm Ủy viên ban. Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam lặng lẽ chuyển trạng thái.
Tháng 2/1976, tôi về Tây Ninh nhận nhiệm vụ Trưởng ty Công an. Lúc đó, anh Cao Đăng Chiếm khuyến khích các anh em thuộc Ban An ninh Trung ương Cục (cũ) về các tỉnh phục vụ Lực lượng Công an