Người xưa xây cầu qua sông

Chắc nhiều người nghĩ rằng, thời xưa người dân chưa có đủ điều kiện để làm cầu vượt sông, nên chủ yếu phải đi thuyền, đò. Nhưng thực tế, từ thời Lý, người Việt đã có thể xây được cầu bắc qua những con sông nhỏ.

Điển hình, như bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” viết, vào thời Vua Lý Thái Tông, năm Thông Thụy thứ 2 (1035), nhà vua “xuống chiếu bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô Lịch, tháng 9, cầu bắc xong, vua ngự đến xem, sai các quan hầu làm thơ”.

Sông Tô Lịch thời xưa là một con sông trung bình chảy quanh kinh thành Thăng Long từ Hồ Tây vòng ra phía Tây thành Thăng Long rồi xuống phía Nam, là con đường giao thông quan trọng từ Thăng Long xuống Sơn Nam. Do đó, bắc được cầu qua sông cũng là một sự kiện lớn đáng ghi vào sử sách. Chỉ tiếc rằng sử ghi quá kiệm lời, không để lại thông tin cho đời sau biết quy mô cầu như thế nào, quá trình bắc cầu diễn ra làm sao.

cầu_ngói_chợ_thượng.jpg -0
Cầu ngói chợ Thượng

Cũng theo ghi chép trong “Đại Việt sử ký toàn thư” thì ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) thời xưa cũng từng có cầu bắc trên hồ. Đó là sự việc diễn ra vào thời Vua Lý Nhân Tông, năm Long Phù thứ 5 (1105), được chép như sau: “Mùa thu, tháng 9, làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, ba ngọn tháp chỏm đá ở chùa Lãm Sơn. Bấy giờ vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ Liên Hoa Đài, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy xung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp. Hàng tháng cứ ngày rằm, mồng một và mùa hạ, ngày mồng 8/4, xa giá ngự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường”.

Với quy mô để lại ngày nay thì chùa Diên Hựu chỉ còn lại một hồ nhỏ hình vuông bên trên xây Liên Hoa Đài thờ Phật, nhưng theo mô tả trong sử sách thì thời xưa, bên ngoài hồ Linh Chiểu còn có hồ rộng bao quanh, nên cầu bắc qua hồ cũng khá quy mô. Tiếc rằng theo biến thiên của lịch sử, toàn bộ ngôi chùa lớn sau này bị phá hủy hết, không còn những dấu vết về hồ và cầu để hậu thế chiêm ngưỡng.

Cũng thời Vua Lý Nhân Tông, vào tháng 10 năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 4 (1123) sử có ghi nhà vua ngự về hành cung Ứng Phong (ở Nam Định ngày nay) xem gặt lúa, đặc biệt có chi tiết “Chuyến đi này bắc cầu vồng qua sông Ba Lạt”. Sông Ba Lạt là khúc sông Hồng chảy ra biển ở cửa Ba Lạt ngày nay, giáp giữa huyện Giao Thủy Nam Định với huyện Tiền Hải Thái Bình. Có lẽ thời Lý, cửa Ba Lạt còn ở sâu trong đất liền, cách cửa biển ngày nay rất xa, nhưng là một khúc sông đổ ra biển thì con sông này khá rộng, do đó, để bắc được “cầu vồng” qua sông, cũng phải tốn khá nhiều công sức cũng như vật liệu.

Người xưa xây cầu qua sông -0
Cầu ngói chợ Lương

Ngày nay, dọc đường xuôi về vùng biển ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, có thể thấy bên cạnh đường thường có các con sông nhỏ và bắc qua sông còn khá nhiều cầu ngói kiểu “thượng gia hạ kiều”. Các cầu này có nhiều kiểu, từ cột gỗ đến cột đá hoặc có mố cầu xây gạch. Cầu ngói chợ Lương ở huyện Hải Hậu còn có lịch sử tới trên 500 năm, với những cột đá có từ thời Lê trung hưng. Kiểu cầu ngói này hiện vẫn còn rải rác ở khắp nước, như cây cầu ngói ở chùa Thầy (Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội) có nền móng xây bằng đá hộc rất kiên cố.

Còn qua các sông lớn, thời xưa đều phải dùng thuyền hoặc cầu phao. Ở miền Bắc, sử sách ghi mỗi khi có quân xâm lược từ phương Bắc tấn công nước ta, bộ binh của chúng qua các sông lớn như sông Thương, sông Cầu, nhất là sông Hồng, đều phải bắc cầu phao.

Việc băng qua các sông lớn ở miền Trung cũng vậy. Như trong cuộc chiến giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, theo bộ sử “Đại Nam thực lục”, năm 1660, khi quân của hai tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến ra Nghệ An, tháng 8 năm đó, Nguyễn Hữu Dật đã cho bắc cầu phao để quân lính qua lại sông Lam. Đến cuối tháng, Nguyễn Hữu Tiến cho rút quân về bờ nam, ra lệnh dỡ cầu phao thì tháng 9, chúa Trịnh Căn tiến quân vào Nam, lại cho bắc cầu phao để quân qua con sông này.

Người xưa xây cầu qua sông -0
Cầu Giấy xưa

Ở miền Nam cũng vậy, “Đại Nam thực lục” chép vào thời chúa Nguyễn Ánh ở Gia Định, năm 1782, rằng: “Vua nghe tin giặc Tây Sơn mưu vào cướp, sai đặt đồn Thảo Câu (Vàm Cỏ) ở bờ phía nam sông lớn Gia Định, giao cho Dương Công Trừng giữ, ở bờ phía bắc thì đặt đồn Dác Ngư (Cá Dốc), giao cho Tôn Thất Mân giữ, ngang sông bắc cầu phao để tiện qua lại. Trong sông thì bày hơn trăm chiến thuyền để làm thế dựa nhau, do Chu Văn Tiếp, Tôn Thất Cốc, Võ Di Nguy, lưu thủ Thăng, tiên phong Túy quản lãnh”. Hoặc năm 1793, chúa cũng sai “Bắc cầu Vàm Cỏ (Thảo Câu, từ bờ sông Lò Vôi ngang qua bờ sông Vàm Cỏ), sai Trương Phúc Luật trông nom công việc”.

Sử sách thời chúa Nguyễn không ghi lại việc xây cầu ở Đàng Trong thế nào, nhưng cho biết trên đường bộ đã có cầu để người bộ hành có thể qua lại. Sử nhà Nguyễn cho biết, năm 1710, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, có lệnh chúa “sai hai dinh Lưu Đồn và Quảng Bình sửa sang các lũy và cầu cống, đường sá”.

Năm 1793, sau những trận đánh lớn với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Ánh đem quân từ Quy Nhơn về Gia Định, cũng đã sai các dinh Phú Yên, Bình Khang và Bình Thuận đều xét những nơi nhà trạm dọc đường để trưa nghỉ tối ngủ mà dựng nhà quan cư, sửa cầu đường, dự bị dân phu lương thực chờ xa giá đi qua dừng lại.

Ở Phú Yên, năm 1800, chúa Nguyễn Ánh cũng sai tướng Nguyễn Hoàng Đức rút quân ở bảo (tức đồn nhỏ có thành đất) Lữ Quán về, chia bắt các đạo bắc cầu Tuần Giang để thông đường chở lương, tiện việc quân báo. Hiện chưa rõ “cầu Tuần Giang” mà “Đại Nam thực lục” ghi là ở đâu.

Khi Vua Gia Long ra bắc Gia Long năm thứ 2 (1803), khi ra đến Nghệ An, đóng lại ở hành cung Hà Trung, nhà vua ban sắc sai trả tiền gạo cho người dân sở tại sửa đắp đường quan; riêng cầu cống có gãy nát thì dùng quân lính mà sửa chữa, không được động dụng sức dân. Theo dã sử thì cầu Bố ở thôn Bố Vệ phía Nam thành phố Thanh Hóa thời Lê cũng là một cây cầu xây theo kiểu “thượng gia hạ kiều” nổi tiếng, đây là nơi phát tích của triều Lê trung hưng, khởi nguồn từ Vua Lê Anh Tông, vốn là cháu 4 đời của Lam quốc công Lê Trừ, anh trai Vua Lê Thái Tổ. Khi Vua Gia Long ra Bắc có ghé qua đây, lúc ra Thăng Long đã ra lệnh dời Thái miếu nhà Hậu Lê về xây ở ngay đầu cầu Bố.

Trên các con đường ở miền Bắc, nhiều cây cầu được xây dựng ghi danh vị công trình sư nổi tiếng thời Lê trung hưng, ông Vũ Công Chấn. Nhiều tài liệu để lại cho biết ông là người chỉ đạo xây dựng rất nhiều cây cầu như cầu bắc qua sông Luân (giáp ranh hai huyện Nông Cống và Tĩnh Gia) cầu Lệ Xuyên và Phú Cốc cùng ở Thanh Hóa. Năm 1671 ông cũng đốc công xây dựng cầu Thiên Phúc ở huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Đặc biệt, một cây cầu nổi tiếng ở phía Tây kinh thành Thăng Long do Vũ Công Chấn chỉ huy xây dựng năm 1667, là cầu Yên Quyết bắc qua sông Tô Lịch, nằm trên huyết mạch giao thông từ xứ Đoài vào kinh thành Thăng Long, về sau và cho đến nay vẫn gọi là Cầu Giấy.

Theo văn bia “Trùng tu Tô Giang kiều bi ký dựng” năm 1679 ở ngay đầu cầu cho biết: "Một tòa cầu dài 15 gian, bầy nhạn bay qua cầu tưởng là gặp phải dãy núi. Từ sông Tô Lịch nhìn lên như một lầu cao rực ánh hồng. Trụ cầu vững vàng đứng giữa dòng sông. Đi trên sàn ván cầu mà như là dẫm trên đất bằng". Văn bia còn khẳng định: "Nơi thắng địa Thượng Yên Quyết này có chiếc cầu nổi tiếng trên dòng sông Tô Lịch". Chúng ta còn được ngắm hình ảnh Cầu Giấy hồi đầu thế kỷ XX qua những bức ảnh tư liệu của người Pháp, cầu không còn mái ngói phía trên và khó lòng biết được cây cầu vòm đá này có phải nguyên bản từ thời Vũ Công Chấn xây dựng hay không.

Việc xây dựng cầu cống sau đó được sử sách thời Nguyễn ghi chép lại cụ thể hơn. Điển hình như năm Minh Mạng thứ nhất (1820), mùa hạ, triều đình cho xây cầu Ngự Hà ở trong kinh thành. “Đại Nam thực lục” chép cụ thể: “Cầu ở phía bắc kho Thái Thương và kho Vũ Khố. Năm đầu Gia Long mới bắc cầu gỗ gọi là cầu Thanh Câu, lâu ngày cầu hư, vua mới sai các quân chồng đá xây ở dưới, để ba khoảng trống, trên lát đá xanh, hai bên có lan can bằng đá. Hơn một tháng cầu xong, vì tên sông là Ngự Hà cho nên đặt tên cầu là cầu Ngự Hà. Thưởng cho các quân hơn 2.400 quan tiền. Từ đấy về sau có công việc dựng làm, không việc gì là không hậu thưởng”.

Việc xây cầu đá được chép nhiều trong giai đoạn trị vì của Vua Minh Mạng. Như vào năm thứ 4 (1823), tháng 3, có sự kiện xây cầu đá cửa tả hữu thành Quảng Bình. Cụ thể, sử chép: “Trước kia sai Thiêm sự Công bộ là Trần Đăng Nghi hợp đồng với dinh thần trù tính vật liệu về công việc xây thành, thêm giá mà đặt mua (một đống đá núi cấp 25 hộc thóc; một đống vôi cấp 20 hộc thóc). Đến nay vua nghĩ công việc thành nặng hơn, nếu hưng công xây đắp ngay thì sức dân sợ không làm nổi, bèn phát thợ ở Kinh và binh vệ Tuần thành, hằng tháng cấp cho tiền gạo (mỗi người một tháng 2 quan tiền 1 phương gạo), làm hai nơi cầu cửa tả cửa hữu trước”. Cũng năm đó, nhà vua sai “xây cầu đá ở đường quan phủ Thừa Thiên (Hương Trà 5 sở, Phú Vang 8 sở)”.

Sang mùa xuân năm Minh Mạng thứ 6 (1825), tiếp tục có việc “xây cầu đá trên đường quan ở Thừa Thiên (từ sông Hương về Nam 35 sở, về Bắc 17 sở)”. Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 6 (1825), “Đại Nam thực lục” cho biết: “Nhân lúc không phải ngày mùa, sai thuê dân xây cầu đá trên đường quan, hằng ngày cấp cho tiền gạo. Vua bàn muốn ra xem, gặp hạn bèn thôi”. Ở các địa phương từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận khi đó giá gạo hơi cao, vua Minh Mạng cũng sai các trấn thần thuê dân xây cầu đá trên đường quan, hậu cấp cho tiền gạo.

Ở vùng Bắc trung bộ, Vua Minh Mạng cũng quan tâm chỉ đạo việc xây cầu bằng đá. Tháng 9 năm Minh Mạng thứ 9 (1828), vua sai các trấn Thanh Hóa, Nghệ An xét các đường cái quan trong hạt, những chỗ sông nhỏ khe ngòi, chỗ nào nên xây cầu đá thì trù tính nhân công vật liệu làm sách đệ tâu để lần lượt làm. Năm sau, lệnh này tiếp tục được vua thúc giục cho hai trấn.

Ở miền Nam, mùa thu năm Minh Mạng thứ 16 (1835), bộ Công xin vua ra lệnh cho các quan tỉnh từ Gia Định qua Định Tường đến Vĩnh Long, An Giang, và từ An Giang, một đường đi Hà Tiên, một đường đến Trấn Tây (Campuchia), đều tùy địa thế, mở đắp đường bộ để tiện việc quan báo. Nếu gặp khe ngòi thì bắc cầu, gặp sông to thì đặt bến chở đò. Những nhu phí về nhân công và vật liệu đều lấy số tiền thừa trước đó mà chi dùng. Nhà vua chuẩn y lời bàn ấy.

Ngoài các tỉnh Bắc bộ, mùa đông năm Minh Mạng thứ 16 (1835), qua lời tâu của bộ Công lên nhà vua, có thể thấy thời đó đã có việc làm cầu để đi lại trên cửa cống thủy lợi. Lời tâu viết: “Xem trong đồ bản, bờ bên hữu sông Cái vẫn có 2 ngòi nhỏ (một cái từ xã Mai Viên huyện Kim Động đến xã Thiện Phiến huyện Tiên Lữ; một cái từ xã Ba Đông huyện Phù Dung đến xã Mai Xá huyện Tiên Lữ, đều ở Hưng Yên ngày nay) đều thông với sông Cái. Vậy xin ở chỗ đầu hai ngòi giáp với sông mới, đều đặt một cái cống có cánh cửa, rộng 6, 7 thước để thuyền có thể đi lại được, trên bắc cầu ngang để tiện qua lại, dưới làm cửa bằng ván gỗ để tiện mở, đóng, theo như thể lệ đóng mở cống nước”. Lời bàn này cũng được nhà vua chuẩn y.

Việc xây dựng cầu nhỏ tiếp tục được duy trì trong thời nhà Nguyễn cho đến khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, họ bắt đầu tiến hành xây dựng những cây cầu kiên cố bắc qua các con sông lớn để thuận tiện cho việc giao thông cũng như khai thác thuộc địa.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.