Người kiến tạo Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ

Là thanh niên Hà Nội, con của một công chức ngành giao thông công chính, được gia đình cho học tại Trường trung học Văn Lang, ông Thành Xuân Thi đã sớm theo mặt trận Việt Minh, tham gia cướp chính quyền, gia nhập tự vệ chiến đấu trong những ngày thủ đô khói lửa rồi lên đường kháng chiến.

Sau khi tốt nghiệp khóa IV Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, ông được chuyển sang học khóa I của Trường Công binh Bộ Tổng tham mưu. Kể từ đây cuộc đời ông gắn với những công trình quân sự và điều đặc biệt ông là người đã tham gia xây dựng sở chỉ huy  của các chiến dịch Biên giới, Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung - những chiến dịch lớn của quân đội ta trong thời kỳ phản công đánh Pháp.

Vinh dự cuộc đời quân ngũ lại đến với ông khi đơn vị do ông chỉ huy được tham gia xây dựng sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chúng tôi gặp ông vào một ngày đầu tháng 5 lịch sử tại số 18, ngách 21, ngõ 158 phố Ngọc Hà, Hà Nội. Đã ngoài tuổi bát tuần, nhưng ông vẫn còn giữ được vẻ nhanh nhẹn, những sự kiện xảy ra trong cuộc đời vẫn như nguyên vẹn trong ông. Ông dần dẫn chúng tôi quay lại với ký ức về những ngày đầu của Chiến dịch Điên Biên Phủ: 

"Đầu năm 1953, Đại đội 250 thuộc Tiểu đoàn 333 công binh Bộ Tổng tham mưu do tôi làm đại đội trưởng được sáp nhập với đơn vị xây dựng khác, gọi là Đội 53 xây dựng ATK, thuộc Bộ Tổng tham mưu. Anh Nguyễn Kiêm Toàn, một công nhân xe lửa, cán bộ cấp tiểu đoàn thuộc Ban xây dựng căn cứ địa về làm đội trưởng. Đồng chí Nguyễn Trịnh Kiểm, quê Nước Hai, Cao Bằng,  làm chính trị viên, tôi làm đội phó.  Một hôm sau bữa cơm chiều của một ngày đầu đông 1953, đồng chí Toàn bảo tôi: "Tổng quân ủy đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Kỳ này cậu đi. Chiều mai cậu lên Cục Tác chiến nhận kế hoạch hành quân cùng đội tiền trạm. Báo cho Trung đội đồng chí Uẩn, Trung đội đồng chí Thốn chuẩn bị".

Vẫn như những lần trước, đội tiền trạm gồm các tổ trinh sát, tổ mộc, tổ rèn và có thêm tổ phá dỡ bom, đạn địch.  Sau một cuộc hành quân đêm đi ngày nghỉ từ Việt Bắc sang Tây Bắc, đơn vị đã đến nơi tập kết ở cây số 62 đường Tuần Giáo, Điện Biên Phủ.

Tại đây, đội tiền trạm chia thành hai bộ phận, một đi làm sở chỉ huy chiến dịch ở Thẩm Púa và Nà Tấu. Còn tôi dẫn bộ phận còn lại đi Mường Phăng. Dựng sở chỉ huy ở phía đông chân núi Pú Đồn, nơi mà Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái cùng các chiến sĩ đi thị sát đã chọn địa điểm đặt đài quan sát.

Mường Phăng trong tiếng Thái có nghĩa là "bản lạnh", quanh năm có sương mây, khí hậu mát mẻ trong lành, cách Điện Biên Phủ 10km đường chim bay. Nơi đây rừng nguyên sinh  rậm rạp, từ trên đỉnh núi cao 1.700m có thể  quan sát trận địa của địch ở cánh đồng Mường Thanh. Trên đường hành quân vào vị trí cũng như khi từ Việt Bắc sang Tây Bắc, chúng tôi luôn phải tránh máy bay địch. Nhìn lên bầu trời Điện Biên, địch tiếp tục đổ quân và máy bay trinh sát thăm dò động tĩnh của quân ta càng thôi thúc chúng tôi quyết tâm phải xây dựng sở chỉ huy sao cho thật bí mật, an toàn, vững chắc.

Sau khi nhận vị trí, tôi cho đơn vị triển khai làm lán chỉ huy. Vẫn là những lán nhỏ như đã từng làm ở các chiến dịch trước. Vật liệu gồm cây, tre, luồng, lá móc, lá gồi sẵn có ở khu rừng. Ở giữa đặt một chiếc bàn đủ rộng để trải bản đồ. Hai bên là hai chiếc ghế dài, mặt ghế là những cây vầu bổ đôi. Hai đầu lán bố trí hai giát giường dành cho chỉ huy và chiến sĩ cảnh vệ. Lán nằm kín dưới tán rừng, vào mùa xuân hoa lan nở, đưa mùi hương thoang thoảng. Tiếp đó chúng tôi làm lán cho các đơn vị dọc theo con suối dưới chân đồi. Ngày 31/1/1954, sở chỉ huy chiến dịch đã chuyển từ Nà Tấu vào Mường Phăng.

Điều quan trọng nhất là tìm vị trí để đào hầm cho anh Văn, anh Thái và cố vấn. Các chiến dịch trước hầm được làm đơn giản, chỉ chống được đạn pháo cối của địch, nhưng đây là chiến dịch lớn, phải có hầm hào chắc chắn. Khi bộ phận làm lán đã bắt đầu san nền dựng cột, chất đất lộ ra, tôi nhận thấy đất ở đây cũng tương tự như đất ở núi Hồng, căn cứ địa Tân Trào, nơi chúng tôi đã đào nhiều hầm hào. Tôi chợt nghĩ, có thể ứng dụng cách làm đường hầm của Chính phủ ở núi Hồng, Tân Trào được không? Rồi chỉ thị tổ đo đạc chọn và dọn mặt cắt khẩu độ để đào đường hầm cho Tổng tư lệnh và Tham mưu trưởng chiến dịch.

Mới đầu khoét thành hàm ếch để thăm dò. Đào sâu 2m rồi 3m không thấy đất sụt và gặp đá tảng. Tôi cho mở rộng khẩu độ đoạn đã đào. Một cuộc trao đổi dân chủ đã đi đến quyết tâm đào đường hầm xuyên sơn. Gần trăm con người gồm lực lượng của Đội 53 và của Đại đội Cảnh vệ 425 do đồng chí Đỗ Hải phụ trách thay nhau đào liên tục. Những kinh nghiệm của việc đào hầm ở chân núi Hồng trước đây được đem ra áp dụng. Rất may có đồng chí Đinh Văn Điền, trước đây từng làm thợ mỏ cũng rất có kinh nghiệm trong việc đào hầm.

Thấy anh em làm việc vất vả, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã chỉ thị hậu cần tăng khẩu phần ăn cho các chiến sĩ để đường hầm mau chóng hoàn thành. Vào một buổi sáng Tổng Tư lệnh đến thăm, chia cho mỗi người một điếu thuốc mang theo từ hội nghị về. Anh nói: Phương châm của chúng ta là đánh chắc tiến chắc, nếu các cậu làm thật chắc chắn, vững vàng thì chỉ xong cái hầm này là ta thắng. Nếu không phải đào vài ba cái nữa".

Ông Thành Xuân Thi (thứ tư từ phải sang) cùng đồng đội trở lại thăm Sở chỉ huy Mường Phăng.
Ông Thành Xuân Thi (thứ tư từ phải sang) cùng đồng đội trở lại thăm Sở chỉ huy Mường Phăng.

Đường hầm được đào cả hai phía từ  đông và tây và thông nhau giữa lòng đồi. Cứ 5m lại chống cây rừng và kê đòn tay đỡ trần hầm. Càng vào sâu càng thiếu ánh sáng, phải khoét những hốc sâu để đèn dầu. Hơi người, hơi dầu thật ngột ngạt, do thiếu dưỡng khí nên cứ  25 đến 40 phút lại thay ca một lần.

Ngoài cuốc xẻng, chúng tôi không có một công cụ nào khác. Thiếu thước lấy tay ướm từng gang để làm chừng, lấy dây buộc viên sỏi làm quả dọi, lấy ống bương, ống tiêm làm thủy bình… Tính toán thể nào để nối liền hai cửa hầm là một vấn đề lớn. Mặt đồi không bằng phẳng, cây cối lại che lấp tầm nhìn…

Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã quan sát kỹ mặt đồi, tìm ra cách lấy đường thẳng ngắn nhất giữa hai cửa hầm, nơi chúng tôi đã cắm hai cột chuẩn. Dùng dây rừng buộc cố định hai cột chuẩn này rồi kéo về hướng đỉnh đồi. Từ giữa đỉnh đồi chúng tôi cắm cọc xác định vị trí rồi từ đó điều chỉnh cho ba cọc thẳng hàng với nhau.

Tuy vậy, khi đào sâu vào 20m, việc định hướng để thông nhau cũng không hề dễ dàng. Trong điều kiện không có la bàn. Các chiến sĩ áp tai vào vách để lắng nghe âm thanh dội về từ phía bên kia. Nhưng chỉ khi cách nhau 10m mới áp dụng được phương pháp này. Sau  khi phát hiện đào lệch về tay phải gần 1m, các chiến sĩ quyết định chuyển sang hướng mới.

Tiếp tục đào dũi, tiếng thình thịch của cuốc xẻng ngày càng gần. Tất cả các chiến sĩ dồn sức mạnh, phá vỡ khoảng đất còn lại. Khi khoảng trống lộ ra. Qua ánh sáng lờ mờ của không gian chật hẹp, hai nhóm chiến sĩ ào sang ôm chầm lấy nhau reo hò vang dậy cả đường hầm. Vậy là sau 28 ngày lao động liên tục, khi bàn tay các chiến sĩ đã phồng rộp chai sần, những chiếc xẻng mòn vẹt như hình trăng khuyết, chúng tôi đã hoàn thành đường hầm chiều dài 69m, cao 1,7m, rộng từ 1 đến 3m. Chỗ chệch hướng được  sửa thành một phòng họp có diện tích 18m2 có lỗ thông hơi.

Đường hầm không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là nơi nghỉ ngơi, làm việc trong những lúc cần thiết, vì vậy các chiến sĩ phải đào thêm một số ngách phụ nữa cho bộ phận thông tin. Đường hầm của sở chỉ huy đã hình thành, đây là thành quả của tập thể đơn vị Đội 53 xây dựng ATK và Đại đội Cảnh vệ 425. Trong quá trình thi công, anh em đã có sáng kiến đan phên nứa lót lá cây để chống thấm dột, đào rãnh và hố bên vách hầm để thoát nước, ghìm phên vào vách hầm để chống sụt, nền được lát các thân cây rừng có đường kính khoảng 10cm, liên kết với nhau  bằng những đinh cầu hết sức chắc chắn…

Đường hầm chính thức được sử dụng từ ngày 15/4/1954, giữa đợt tấn công thứ 2 đang diễn ra hết sức quyết liệt. Sau đó chúng tôi còn được lệnh đào thêm một đường hầm mới để chuyển cơ quan. Nhưng khi vừa phát quang, dọn chỗ thì nhận được tin bắt sống tướng Đờcát, chiến dịch Điện Biên phủ đã toàn thắng"

Nam Trung - Nguyên Thảo (ghi)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.