Trong thời gian qua, thế giới biết đến vụ bê bối của DAS, họ đã bí mật theo dõi và quấy rối chính công dân nước họ - với những cuộc nghe lén điện thoại của các thẩm phán, đe dọa con cái của các nhà báo, kín đáo dò xét những nhà hoạt động nhân quyền. Nhưng qua những tài liệu mới được khám phá gần đây đã tiết lộ một sự thật gây bất ngờ cho thế giới thấy, một lần nữa: DAS cũng tiến hành những hoạt động theo dõi bất hợp pháp tương tự ngay trên đất của châu Âu, trong đó quy mô nhất là ở nước Bỉ, thậm chí ngay bên trong tòa nhà Nghị viện châu Âu.
Theo các tài liệu mật trước đây được sử dụng trong những vụ kiện cáo liên quan đến DAS ở Colombia, mục tiêu của "Chiến dịch châu Âu" là "vô hiệu hóa tầm ảnh hưởng" của Tiểu ban Nhân quyền của Nghị viện châu Âu, Cơ quan Cao ủy Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, Tổ chức phi chính phủ về công nhân của châu Âu và các nhà hoạt động xã hội khác chỉ trích báo cáo về nhân quyền của Tổng thống Alvaro Uribe của Colombia. Ở Brussels, thủ đô nước Bỉ, một nhóm nạn nhân của DAS hiện đã có quyết định kiện cơ quan này ra tòa án ở Bỉ - nơi đã phát hiện sự xâm nhập của nhiều nhân viên DAS, và có lẽ họ sẽ hành động như thế ở tại Colombia.
Richard Howitt, nhà lập pháp thuộc đảng Xã hội của Anh, nằm trong số những nhân vật có thế lực buộc chính quyền Colombia và EU phải có trách nhiệm giải trình về mọi hoạt động ngầm của DAS ở châu Âu. Richard Howitt đã tham dự một vài phiên tòa xét xử ở Colombia và biết được các nhân viên đã về hưu cũng như đương nhiệm của DAS khẳng định những chiến dịch gián điệp cũng như quấy rối có hệ thống của Cơ quan tình báo này, và Tổng thống Uribe cũng biết chuyện về họ. Richard Howitt ví sự kiện gián điệp của DAS ở châu Âu cũng gây tổn hại trầm trọng như vụ bê bối tình báo
Hành động của Cơ quan Tình báo
Paul-Emile Dupret là cố vấn pháp lý người Bỉ phục vụ cho nhóm Xanh ở Nghị viện châu Âu, nơi ông làm việc đã 18 năm. Dupret nói những chuyện khó chịu đến với ông bắt đầu vào năm 2004 khi ông bị dính líu vào những cuộc phản kháng chống lại cuộc viếng thăm EU của Tổng thống Colombia Alvaro Uribe. Chẳng bao lâu sau đó, một thông điệp có được sự ủng hộ của tổ chức phiến quân FARC - bị Mỹ và châu Âu đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố - xuất hiện trên Internet mang tên của Dupret, dù bị viết sai là "Paul-Emiel" thay vì Paul-Emile.
Thông điệp cũng bao gồm những trích đoạn từ một e-mail mà Dupret đã gửi trước đó cho các nhà hoạt động nhân quyền khác từ tài khoản của Nghị viện châu Âu. Dupret nói ông chưa bao giờ gặp mặt các thành viên của FARC, và biết thông điệp giả này được sử dụng để biến ông thành mục tiêu tấn công của các tổ chức chống FARC. Bây giờ, qua các tài liệu mật được tiết lộ, Dupret mới rõ ra là chính DAS đã bí mật tiến hành chiến dịch chống lại ông trong quãng thời gian đó.
Dupret kết luận rằng DAS chắc chắn đã tranh thủ được sự hợp tác của chính quyền Mỹ khá nhanh, bởi vì vào 5 tháng sau đó, khi trở về từ Venezuela cùng với phái đoàn chính thức của Nghị viện châu Âu, ông bị tách riêng ra khỏi đoàn lúc quá cảnh ở sân bay Miami và sau đó bị thẩm vấn suốt 5 giờ - không về Venezuela mà về Colombia. Dupret cho biết ông bị giam giữ trong một nhà tù ngầm dưới đất mà không có sự giải thích nào trong suốt 24 giờ và trải qua những gì mà ông gọi là "hơi giống môi trường của Guantanamo" trước khi bị cảnh sát áp giải ra máy bay và báo tin là hộ chiếu vĩnh viễn đến Mỹ của ông đã bị hủy.
Năm 2007, nỗ lực thay mặt Dupret xin cấp visa đến Mỹ của Nghị viện châu Âu đã thất bại do một văn bản thông báo ông không đủ tư cách vì nghi ngờ có hoạt động khủng bố. Một hồ sơ chứa đựng những thông tin nhạy cảm về vụ việc của Dupret cũng bị đánh cắp từ văn phòng của ông trong tòa nhà Nghị viện châu Âu.
Tháng 8/2009, trong chuyến bay công vụ cho Nghị viện châu Âu đến Mỹ Latinh, Dupret nhận được thông báo là chính quyền Mỹ coi ông là nghi can khủng bố nên máy bay phải tránh không phận nước Mỹ và cái giá phải trả là thời gian bay tăng thêm 2 giờ và 20.000 euro. Sự cố này sau đó được đưa lên trang nhất nhiều tờ báo và đã gây đau khổ ghê gớm cho gia đình Dupret, nhất là với đứa con trai còn nhỏ của ông.
Dupret nói mọi người từ đồng nghiệp cho đến nhân viên phục vụ quán cà phê đều tránh xa ông, đồng thời sự việc còn tạo cơ hội cho những đối thủ chính trị có cớ để chống lại ông. Không có cách nào để chứng minh sự trong sạch của mình, Dupret thừa nhận. Dupret tin chắc DAS có liên quan đến những vấn đề bất ngờ này từ phía Mỹ. Ông yêu cầu các chính quyền ở châu Âu chuyển lý lịch "trong sạch hoàn toàn" của ông đến đối tác Mỹ của họ. Mặc dù cuối cùng được minh oan nhưng những tổn thất của Dupret là không thể hồi phục.
Về vụ việc của Dupret, Bộ Ngoại giao Mỹ nói “họ đã không được cung cấp bất cứ thông tin nào" cho thấy sự liên kết giữa DAS và Dupret. Một mục tiêu khác của DAS là Patricia Verbauwhede ở tổ chức từ thiện Công giáo Bỉ - Broderlijk Delen. Verbauwhede nói có một lý do khiến bà cố tránh bay đến nước Mỹ chính là vì không muốn rơi vào tình cảnh như của Dupret.
Vào mùa thu năm 2009, một trong những tổ chức đồng hành với Broderlijk Delen tìm thấy tên của Verbauwhede trong các tài liệu của DAS cùng với thông tin từ các e-mail và cuộc gọi điện thoại bị chặn bởi cơ DAS nhiều tai tiếng. Mục đích của DAS là gây mất thanh danh cho Verbauwhede và tổ chức từ thiện Broderlijk Delen. Verbauwhede nói lúc đầu bà không cho là chuyện nghiêm trọng. Bà nói: "Phản ứng đầu tiên của tôi là cười bỏ qua. Chúng tôi có thể gây nguy hiểm gì cho chế độ
Trong một cuộc họp mà bà cùng với các nạn nhân khác tổ chức với lãnh đạo mới được bổ nhiệm của DAS là Felipe Munoz ở
Quả đúng như vậy, những tài liệu mật được tiết lộ ngày 13/5/2010 cho thấy DAS vẫn tiếp tục theo dõi các nhà báo cũng như mục tiêu lâu dài khác - đó là Luis-Guillermo Perez, Tổng thư ký của Liên đoàn Nhân quyền quốc tế và cũng sống ở Bỉ