Lương Văn Can và những hoạt động ở Cao Miên

9 năm bị lưu đày và quản thúc bên Cao Miên, Lương Văn Can với một nghị lực phi thường đã vượt qua tất cả. Bằng con mắt tinh tường của một người am hiểu, ông đã nhìn ra một thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn cho giới buôn bán người Việt Nam tại Campuchia.

Chính ông là người khai phá thị trường này để tìm nguồn tài chính đóng góp cho cách mạng và là người tiên phong mở đường cho những lớp thương nhân kế cận.

Mở đường cho giới thương nhân

Để chăm lo cho chồng trong những ngày nơi đất khách quê người trong khi tuổi già sức yếu, bà Lê Thị Lễ vợ Lương Văn Can đã cho người con trai thứ 8 là Lương Ngọc Môn, lúc đó đã 15 tuổi theo Lương Văn Can sang Campuchia. Trong chuyến đi này, ngoài hai cha con Lương Văn Can còn có 3 chí sĩ khác. 

Mười năm xa cách dài đằng đẵng, không biết sống chết ra sao, nhất là Nam Vang lúc này trong trí tưởng tượng của mọi người là nơi ma thiêng nước độc. Khi tiễn chồng lên đường, vợ Lương Văn Can tỏ ra rất bình tĩnh.

Sau này, trong tác phẩm "Hành trạng", Lương Văn Can đã viết những dòng như để tri ân sự cứng cỏi, tấm lòng thủy chung của người vợ hiền: "Đến lúc ta xuống tàu đi Nam Vang, phu nhân cùng theo ra tiễn, sắc mặt tịnh không có một tị nào là oán hận lo sợ, chỉ trông ta mà nói rằng: Ông chờ tôi với nhớ. Không chúc thọ mà ra chúc thọ, chí tình giai lão hiện ra nhời nói, lúc tạm phân ly, nói dẫu ngắn mà tình thì dài…".

Nam Vang thời bấy là trung tâm kinh tế - xã hội của đất nước Cao Miên, một vùng đất cũng nằm trong tầm kiểm soát của thực dân Pháp. Những người đi đày bị ném vào một thành phố xa lạ, khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và vẫn bị chính quyền thực dân quản thúc. 

Trong thời gian ở đây, Lương Văn Can phát hiện Nam Vang chính là một thị trường đầy tiềm năng trong việc buôn bán, giao thương nhưng lại đang bị bỏ ngỏ. Hàng hóa ở đây rất sơ sài và công việc buôn bán cũng không mấy phát triển. Vì thế, đầu tiên ông tìm cách làm kinh tế để hai cha con đủ sống và lo cho Lương Ngọc Môn có điều kiện ăn học. 

Khi nắm được quá trình buôn bán và hiểu được phong tục tập quán cũng như văn hóa của người dân nơi đây, Lương Văn Can quyết định thành lập một đường dây buôn bán xuyên biên giới Việt Nam - Cao Miên. Ông bí mật liên lạc với gia đình ở Hà Nội để nắm bắt được giá cả các mặt hàng đang khan hiếm tại Nam Vang và tìm những con đường thuận lợi để chuyển hàng hóa sang. 

Một góc Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20.
Một góc Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20.

Ông thuê một căn nhà trên đường An Dương, lập hiệu buôn lấy tên là Đại Thanh, chuyên buôn bán các loại hàng hóa mang từ Việt Nam sang. Lúc này, người con gái thứ 7 của ông là Lương Thị Trí cũng sang Nam Vang để phụng dưỡng cha già và tham gia vào công việc kinh doanh. 

Không chỉ dừng lại ở hiệu buôn Đại Thanh, Lương Văn Can còn mở thêm hiệu buôn Hưng Thạnh và giao cho con dâu là Nguyễn Thị Hồng Đính quản lý. Công việc buôn bán ngày càng trở nên phát đạt.

Cách buôn bán thời đó của gia đình Lương Văn Can cũng hết sức đặc biệt. Bởi vì đang sống trong sự kiểm soát của chính quyền thực dân, đang mang thân phận người đi đày nên việc buôn bán phải rất khôn khéo. Theo kế hoạch của ông, mọi người trong gia đình chia nhau đi nghiên cứu thị trường rồi kín đáo liên hệ với vợ ông tại Hà Nội và các thương gia trong nước, thiết lập một đường dây thương mại bí mật xuyên biên giới, dùng tiếng lóng đánh điện về Hà Nội và Sài Gòn để đặt hàng đưa sang. Việc buôn bán từ đó phát triển rất nhanh. 

Riêng Hưng Thạnh đã phát triển thành một hiệu buôn lớn, tầng trệt bán hàng tấm và tạp hóa, tầng trên đóng giày và làm mũ. Trong hiệu buôn thường xuyên có từ 13-14 công nhân là con cháu của các chí sĩ Cần vương, do Nguyễn Thị Hồng Đính đưa sang. Nhờ đó, Lương Văn Can và con gái, con dâu đã có một nguồn tài chính dồi dào để trợ giúp cho các phong trào yêu nước.

Từ sự thành công của Lương Văn Can, một phong trào buôn bán ở thị trường Campuchia dần dần được hình thành và phát triển rầm rộ. Sau này, khi Lương Văn Can qua đời, một thương nhân ở Sài Gòn đã viết bài báo nhan đề "Thương giới Việt Nam đối với lễ truy điệu Lương chí sĩ" đăng trên tờ "Đông Pháp thời báo" có đoạn như sau: "Ấy đương trong vòng đày ải đó, không còn cách sanh kế gì nữa, cụ mới lập nhà buôn. Thế là cụ đã mở đường cho nhiều người Việt Nam trước kia sợ Cao Miên "ma thiêng nước độc" bây giờ cũng bắt chước sang buôn bán, sau này trở nên rất giàu có. Coi đó thì biết công của cụ không riêng ở phần gốc mà có cả ở phần ngọn, không riêng ở chánh giới mà có ở thương giới nữa…".

Nỗi đau chồng chất

Trong số những người thân Lương Văn Can gặp ở đất Nam Vang có cả người con yêu quý mà ông rất trông đợi, đó là Lương Ngọc Quyến. Nhưng lần gặp gỡ ngắn ngủi ấy không ngờ là lần gặp gỡ cuối cùng của hai cha con.

Lương Ngọc Quyến sinh năm 1885, con thứ của Lương Văn Can, là một trong những du học sinh đầu tiên xuất dương sang Nhật, đã cùng với một số thanh niên yêu nước khác học tại trường quân sự Simbu Gakku, trong đó có người em ruột là Lương Nhị Khanh. Khi Nhật - Pháp bắt tay nhau trục xuất tất cả các du học sinh từ Việt Nam ra khỏi Nhật cũng là lúc Lương Ngọc Quyến vừa tốt nghiệp trường quân sự. 

Tháng 3-1909 Lương Ngọc Quyến đã phải cùng Phan Bội Châu và Lão Mại Bang sang Hương Cảng, Hồng Kông tạm trú. Từ Hương Cảng, nhóm người này trôi dạt sang Quảng Đông, Trung Quốc rồi sau đó sang Thái Lan để chờ đợi thời cơ. Sau đó, ông học trường Quân nhu Học hiệu tại Quảng Đông và trường Sĩ quan Học hiệu ở Bắc Kinh.

Tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bội Châu xây dựng tại Quảng Đông với đường lối đấu tranh mới. Lương Ngọc Quyến được cử làm Ủy viên quân vụ thuộc bộ chấp hành. Một trong những vấn đề gay go là làm sao có đủ kinh phí để duy trì Hội trong những ngày đầu thành lập. 

Để góp phần giải quyết khó khăn này, Lương Ngọc Quyến đã về nước vận động đánh Ty rượu Thanh Ba và dinh Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân, lấy kinh phí cho Hội. Năm 1914, ông về Sài Gòn, rồi xuống Long Xuyên gặp Dương Bá Trạc, một chí sĩ bị đưa đi an trí vì tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Ý định của Lương Ngọc Quyến là sẽ gây dựng cơ sở cách mạng ở Nam Kỳ, tuyển mộ người, đưa sang Thái Lan để đào tạo lực lượng, chuẩn bị khởi nghĩa.

Thật không may, trong chuyến đi ấy ông đã bị một thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội phản bội, chỉ điểm cho thực dân Pháp. Vì thế, ông đã bị lộ tung tích khi sang Nam Vang thăm cha. Ông lập tức quay về Sài Gòn rồi tìm đường sang Hương Cảng. Tại đây, ông bị cảnh sát Anh bắt giữ và giao cho Pháp. 

Tháng 3-1915, Lương Ngọc Quyến bị đưa về Hà Nội, phải trải qua rất nhiều nhà lao, chịu vô số những nhục hình tra tấn. Ngày 25-7-1916, ông bị kết án tù chung thân và bị đày đi Thái Nguyên. Tại đây, ông đã bị bọn giặc dùi bàn chân để tra xích sắt, khiến ông bị liệt một chân. 

Trong tù, Lương Ngọc Quyến đã kết bạn với Trịnh Văn Cấn, còn gọi là Đội Cấn. Là lính khố xanh, được tự do đi lại trong trại giam, Đội Cấn đã vận động rất nhiều tù nhân và binh lính, lập một ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Trong ngục, Lương Ngọc Quyến nhanh chóng thảo ra một bản Tuyên ngôn thứ nhất để kêu gọi anh em binh lính.

Chân dung Đội Cấn, người cùng Lương Ngọc Quyến tổ chức cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.
Chân dung Đội Cấn, người cùng Lương Ngọc Quyến tổ chức cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.

Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra vào ngày 31-8-1917 đã gây chấn động dư luận, như một quả bom của lòng yêu nước khiến quân Pháp hoàn toàn bị bất ngờ. Nghĩa quân phá đề lao, giết giám ngục, giải phóng cho hơn 200 tù nhân, đánh chiếm các công sở, kho bạc, tòa án, kho vũ khí, bao vây trại lính, phất lên lá cờ năm sao trước cửa thành. 

Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, hơn 300 dân địa phương, 131 lính khố xanh cùng 180 tù nhân tình nguyện gia nhập nghĩa quân, tạo thành một lực lượng hơn 600 người. Tuy nhiên, do lực lượng mỏng nên nghĩa quân chọn cách cố thủ trong thành, dựa vào thế hiểm trở của địa bàn để chống lại bọn lính Pháp.

Thực dân Pháp đã huy động một lực lượng hùng hậu về người và khí giới lên Thái Nguyên với quyết tâm phá tan cuộc khởi nghĩa. Hơn 600 nghĩa sĩ với số lương thực và khí giới cướp được không đáng kể, phải chống chọi lại 2.000 quân địch trang bị vũ khí tối tân, có cả pháo binh, tàu chiến. Lương Ngọc Quyến đã hy sinh anh dũng vào ngày 5-9-1917. 

Ông không chịu lên cáng để rút lui mà yêu cầu Đội Cấn bắn vào ngực mình để quyên sinh. Đội Cấn cùng các chiến sĩ cũng đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hơn bốn tháng trời chống trả quyết liệt, cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã bị dập tắt. Đội Cấn đã tự sát để không rơi vào tay giặc.

Cái chết của Lương Ngọc Quyến là nỗi đau quá lớn đối với người cha già trong những tháng ngày bị lưu đày biệt xứ.

Và một điều càng đau đớn hơn đối với Lương Văn Can là ông có 5 người con trai thì cả 5 người đều chết từ rất trẻ. Ngoài Lương Ngọc Quyến lưu danh sử sách, Lương Ngọc Nhiễm - du học sinh trong phong trào Đông Du cũng qua đời khi mới ở tuổi 28.

Như vậy, trong năm 1917, Lương Văn Can phải liên tiếp đương đầu với nỗi đau mất hai người con. Người con trai trưởng là Lương Trúc Đàm, một trong những người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, người tham gia giảng dạy, viết sách và diễn thuyết, cũng đã qua đời vào tháng 5-1908. Đến năm 1921, người con trai thứ 6 là Lương Ngọc Môn, người đi cùng ông sang Cao Miên cũng qua đời.

Trong 9 năm xa nhà, 3 lần nhận được tin con mất, Lương Văn Can đã phải gồng mình để vượt qua nỗi đau riêng bằng tất cả nghị lực của mình. Kinh doanh, viết sách và tự học tập trau dồi kiến thức, đó là những gì Lương Văn Can đã làm trong thời gian sống lưu đày ở Nam Vang. 

Những cuốn sách tiêu biểu được ông viết trong thời gian này như "Gia huấn", "Hán học tiệp kính", "Hán tự quốc âm", "Hạnh đàn loại ngữ", "Châu thư loại ngữ"... Trong số đó, có hai cuốn sách rất quan trọng là "Thương học phương châm" và "Kim cổ cách ngôn" dành cho giới kinh doanh. Đây là hai cuốn sách mà theo các nhà nghiên cứu, cho dù được viết cách đây hơn 100 năm nhưng đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

Vợ của Lương Ngọc Quyến là Nguyễn Thị Hồng Đính. Ngay từ thời thiếu nữ, bà đã là một phụ nữ lanh lợi hoạt bát, học hành chu đáo, từng là người đi tiên phong trong phong trào cắt tóc, để răng trắng. 

Năm 1915, bà tìm cách sang Nam Vang với Lương Văn Can, tham gia vào việc buôn bán. Ban đầu, Lương Văn Can giao cho con dâu trông nom hiệu buôn Hưng Thạnh. 

Chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ sự khéo léo, nhanh nhẹn, bà mở thêm một hiệu buôn lấy tên là Nam Gia. Các hiệu buôn do bà trông coi là cơ sở kinh doanh nhằm mục đích đóng góp kinh phí cho các tổ chức yêu nước và là nơi liên lạc thông tin của chiến sĩ cách mạng. 

Khi Lương Văn Can về nước, bà vẫn tiếp tục những hoạt động mà Lương Văn Can đã gây dựng. Một số hoạt động đáng ghi nhận: năm 1925 bà vận động Việt kiều ở Nam Vang đấu tranh để yêu cầu Pháp thả chí sĩ Phan Bội Châu và vận động quyên tiền các kiều bào để gửi về ủng hộ Phan Bội Châu. Năm 1930, cơ sở của bà là địa điểm in sách báo tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Đông Dương. 

Khi về nước năm 1931, bà tiếp tục dùng số tiền tích cóp được để ủng hộ Cách mạng. Năm 1936 bà cùng em dâu Nguyễn Thị Vân Thiềm, vợ Lương Ngọc Bân hỗ trợ xuất bản tờ báo "Le Travail" của các chiến sĩ cách mạng, trợ giúp tài chính để Nguyễn Công Truyền được Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Bà là một trong những người ủng hộ rất tích cực trong các phong trào Tuần lễ vàng, Tấm áo mùa đông binh sĩ… 

Ngày 20-1-1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thay mặt Chính phủ truy tặng bà tấm bằng "Có công với nước". Năm 2002, bà Nguyễn Thị Hồng Đính được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập.

Một người con dâu khác của Lương Văn Can cũng có nhiều đóng góp cho cách mạng là bà Nguyễn Thị Vân Thiềm như đã kể trên. Ngoài việc cùng với chị dâu Nguyễn Thị Hồng Đính đóng góp tài chính để xuất bản tờ "Le Travail", bà còn giúp nhiều nhà cách mạng về nơi ăn chốn ở, kinh phí… 

Ngôi nhà số 32 Hàng Ngang của bà trở thành một trong những địa chỉ lui tới của các chiến sĩ cách mạng. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, gia đình bà được Tổng bộ Việt Minh trao tặng Đồng tiền vàng và tấm bằng "Có công với nước".

Duy Tường

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.