Khoác bộ comlê trắng gần như thường trực (gần đây tôi còn biết được nó là nhất bộ), mái tóc bồng bềnh và gương mặt sáng rỡ, từ những cuộc họp của chính quyền cách mạng non trẻ và bận rộn, anh bất ngờ tạt qua nhà.
Nếu trúng bữa cơm, mẹ tôi thường rán thêm một đĩa trứng gà: đó là món ăn anh đặc biệt thích, mẹ tôi không bao giờ quên. Nếu anh có báo trước, người lớn bao giờ cũng đợi ăn cùng. Vì có lần anh về muộn, ngồi ăn một mình sau đó mẹ tôi bảo: "Anh Giáp giận mọi người không đợi đó…". Đến cả khi Bác Hồ tới nhà, tôi thấy Bác cũng chiều anh như đối với một cậu em út.
Nếu trúng bữa cơm, mẹ tôi thường rán thêm một đĩa trứng gà: đó là món ăn anh đặc biệt thích, mẹ tôi không bao giờ quên. Nếu anh có báo trước, người lớn bao giờ cũng đợi ăn cùng. Vì có lần anh về muộn, ngồi ăn một mình sau đó mẹ tôi bảo: "Anh Giáp giận mọi người không đợi đó…". Đến cả khi Bác Hồ tới nhà, tôi thấy Bác cũng chiều anh như đối với một cậu em út.
Cùng với anh Giáp, những người bạn mới xuất hiện ở nhà tôi cũng giống như đã quen thân từ lâu. Những ngày mới cách mạng, ngoài ngôi nhà 32 Lý Thường Kiệt (trước là văn phòng của bà Brachet, Hiệu trưởng Trường Đồng Khánh - nay là Trưng Vương), tôi rất khoái vì chúng tôi còn có một biệt thự theo kiểu Tây ở đầu làng Mộc, tên là Les Saules (Liễu Trang), thuê của một bác sĩ người Pháp, ông De Massiac. Gần đây, anh Giáp có bảo tôi rằng đó là ngôi nhà Đảng đã đứng tên ba tôi để thuê. Có những ngày, anh Trường Chinh tới đó để làm việc, viết lách. Mấy chị em tôi lúc ấy thường đi xe đạp hoặc tàu điện (bến cuối ở Cầu Mới, ngay gần nhà) để vào trung tâm Hà Nội họp đội Nhi đồng và Thiếu nữ Tiền phong. Từ những cuộc mít tinh trở về, câu chuyện sôi nổi của chúng tôi khiến anh Trường Chinh phải rời bỏ công việc trong chốc lát. Tôi thấy anh người lớn mà cười hồn nhiên như con trẻ, mở to đôi mắt nâu ngạc nhiên khi nghe kể lại chuyện dân mình sôi nổi như thế nào, người ta đã khóc khi nghe Bác nói sau hội nghị từ Pháp trở về: "Hồ Chí Minh này không bao giờ bán nước"…
Cái vui của quần chúng cũng khác thường, đến nỗi tôi còn nhớ câu thơ in trên báo của một nhà thơ lãng mạn (hình như là Xuân Diệu?): "Tôi muốn cười bằng tay và khóc bằng chân"!. Đặc biệt, tôi thấy anh Trường Chinh có gương mặt, vóc người, đôi mắt to màu nâu giống anh Giáp cứ như hai anh em, dẫu nhìn anh có vẻ dễ gần và hiền hơn anh Giáp. Một người rất thân với anh Giáp và cũng hay tới nhà là anh Phạm Văn Đồng. Thật buồn cười, bất kể tuổi tác, bọn chúng tôi bấy giờ đều gọi những người đáng tuổi cô, chú mình là anh, chị.
Khi anh Đồng ở Hội nghị Fontainebleau về, anh cho tôi và chị Lê một cái đồng hồ quả quýt Thụy Sĩ, dẹt đến mức không thể mỏng hơn nữa. Chị Hà thì được một cái áo mưa bằng nilon - cái áo nilon đầu tiên được thấy. Bởi trước đó, ở Việt Nam chỉ có áo mưa bằng giấy dầu, cao su, tuy đẹp nhưng nặng. Thứ nilon đó mỏng dính, nhẹ bỗng (không giống những tấm nilon xuất hiện ở ta sau này), màu thiên thanh. Tôi đặt tên nó là Mưa Xuân, tên của một trong những chiếc áo kỳ diệu của nàng công chúa Da Lừa trong chuyện cổ tích.
Hồi đầu cách mạng, đội bảo vệ anh Giáp hầu hết là giải phóng quân từ chiến khu trở về. Mỗi lần tới qua đêm ở biệt thự Les Saules, có khoảng một tiểu đội đến cùng anh Giáp. Họ ngủ ở một gian nhà riêng biệt giữa vườn hoa mộc. Và người nổi tiếng nhất cũng tên là Mộc, một thanh niên người Thổ cao lớn, mặt rất đẹp với những nét như Tây. Dù thời ấy họ sống trong kỷ luật sắt, nhưng đã có vài tiểu thư Hà Nội khiến anh Mộc phải xiêu lòng. Một lần tôi giật mình vì nghe thấy tiếng nổ ở gian nhà giữa vườn hoa mộc: vì sơ ý khi lau súng, anh Mộc đã để đạn cướp cò, may mà lúc đó súng đang chĩa lên trần. ít lâu sau tôi thấy người thanh niên miền núi giỏi võ và trung thành tận tụy ấy không còn đi theo anh Giáp nữa. Bản tính hoang sơ nhưng phóng khoáng của anh hẳn đã không trụ nổi trước những người đẹp phóng túng và cám dỗ của phố phường.
Còn ở gần số nhà 32 Lý Thường Kiệt tôi lại nhớ tới một kỷ niệm khác. Trở về Hà Nội, dường như anh Giáp rất muốn được bù đắp tình cảm gia đình sau khi phải sống xa nhà một thời gian dài vì hoạt động bí mật. Có lần, chắc là vì quá bận, lâu không về chơi nhà nên anh cho người ghé tới đón tôi đến ăn cơm tối và ở chơi với anh một ngày ở một ngôi nhà trên phố Nguyễn Du bây giờ. Tôi còn nhớ ngay sau lưng nhà ấy là một biệt thự, trụ sở Quốc Dân đảng, tại con phố song song với phố nhà anh Giáp lúc ấy, gọi là phố ôn Như Hầu. Đột nhiên, số nhà ấy thành nổi tiếng vì một vụ khủng khiếp do công an ta phát hiện mà tới hôm nay ký ức của tôi còn ghi lại một cách máy móc những dòng chữ của cái tít ở trang nhất một tờ báo lớn nhất Hà Thành lúc ấy: "Vụ ôn Như Hầu: Hầm chứa xác người ở nhà số… phố ôn Như Hầu".
Số nhà tôi đã quên, nhưng thật ghê sợ khi nghĩ nó gần như ở ngay sau lưng nhà anh Giáp, và tôi đã sống liền kề những cái xác! Chị cả tôi táo tợn nhất nhà, mới 18 tuổi nên chẳng hiểu gì, lén đến tận nơi xem căn hầm. Kết quả: về nhà chị thức trắng đêm vì sợ. Còn tôi và chị Lê, dựa theo ảnh chụp trên báo đã lấy những chiếc gối ôm dài đem dựng sau cánh cửa phòng ngủ của các chị, nhập nhoạng tối trông như những cái xác ở hầm ôn Như Hầu. Màn "nghệ thuật sắp đặt" ấy đã khiến các chị sợ rú lên! Đường tàu điện từ Cầu Mới ra Hà Nội, có khi các chị đi đến đoạn Khâm Thiên phải trở về vì bọn "Tào Phù" nằm lăn ngang đường ray (ta gọi bọn lính Tàu như vậy vì lúc đó Tưởng Giới Thạch nhặt nhạnh quân từ đám dân gần chết đói, bị phù thũng bủng beo nom rất tởm). Chúng "biểu tình nằm" vì hôm trước có thằng nhảy tàu điện bị chết!
Còn tôi thì giữ mãi ấn tượng ghê sợ vì khi vào thăm ba tôi ốm nằm ở nhà thương De Lanessan - nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô và 108 - nhà thương Tây bấy giờ còn rộng lắm, tôi thấy lính Tưởng lê la khắp nơi, mang những cái chân lở loét ra rửa nơi các đài phun nước của khu vườn hoa sạch sẽ và tuyệt đẹp ấy! Tất cả những chuyện tôi chỉ thấy trên bề mặt hời hợt kia, lại thuộc về những vấn đề chính trị vô cùng bức xúc mà anh Giáp, Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo lúc ấy phải đau đầu, đối phó uyển chuyển sao cho dây đàn căng thẳng không bị đứt. Dẫu chỉ là đối phó với bọn Tàu đang tưởng bở, giở cái trò mà một chỉ huy cấp cao Pháp gọi là "Chinoiseries" (trò Tàu): khiêu khích, gây đổ máu và cướp nước ta.
Trong câu chuyện của anh Giáp với ba tôi, tôi chỉ loáng thoáng nghe anh kể lại những chi tiết vui vui khi đi làm ngoại giao với Vũ Hồng Khanh, "tinh hoa" của đảng Việt Quốc vốn dựa vào bọn Tào Phù, đồng bóng, ngổ ngáo và… nghiện ngập, nhưng lúc này đang chịu tác động từ sức cảm hóa của Bác Hồ. Để chứng tỏ sự thống nhất của dân tộc trước mặt bọn Pháp, Bác đã chọn Vũ Hồng Khanh là đại diện cùng Bác đi ký Hiệp định Mồng 6 tháng 3. Bởi chỉ trên mảnh đất nhỏ miền Bắc, 20 vạn quân Tàu đã tràn ngập! Hiệp định Sơ bộ giúp ta tránh "phải chiến đấu cùng một lúc với thực dân Pháp, Tàu Trắng, bọn phản cách mạng trong nước" - theo chỉ thị của Đảng: "Hòa để tiến".
Còn khi anh Giáp cùng Nguyễn Tường Tam (tức Nhất Linh) dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Đà Lạt, ấn tượng của một đứa trẻ như tôi cũng chỉ là mơ ước… được đi chơi! Bởi lá thư viết vào tháng 4-1946 của anh Giáp gửi cho tôi chỉ nói: "Đà Lạt đẹp lắm… Có hồ, có núi, có rặng thông quanh hồ, có sương bạc đến nửa buổi chưa tan, có mưa giông ngày ngày và đúng giờ là trút xuống. Nhưng Đà Lạt còn ở dưới quyền người Pháp, thành thử bao nhiêu cái đẹp, cái mát, cái khỏe, cái vui, cái dễ chịu đều tiêu tán đâu mất. Anh mong một ngày kia, các em có dịp đi Đà Lạt và ngày ấy Đà Lạt đã trở lại chủ quyền nước ta. Các em sẽ hưởng được nhiều thú vui hơn anh bây giờ". Dĩ nhiên tôi không thể biết tới một câu trong những trang viết của chỉ huy tình báo Pháp Sainteny lúc ấy: "Hà Nội vẫn có Võ Nguyên Giáp được coi như là nhân vật đáng gờm nhất. Nhân vật hùng mạnh này đã chế ngự hội nghị trù bị tại Đà Lạt khai mạc ngày 18 tháng 4 dưới sự chủ tọa của Đô đốc D'Argenlieu".
Như tất cả các cuộc cách mạng mới thành công, đây là thời kỳ của những nhà hùng biện xuất hiện trên lễ đài: Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Đình Thi... Những cuộc mít tinh với tôi giống như lễ hội cực kỳ vui vẻ, vốn thường diễn ra theo công thức "Mít tinh biến thành biểu tình tuần hành".... Về đến cổng vẫn còn hô khẩu hiệu! Có lần không được đi mít tinh, nhưng tôi vẫn được nghe người lớn say sưa kể về những tràng vỗ tay như sấm vang lên khi anh Giáp kết thúc một bài diễn văn với những lời cô đúc như một khẩu hiệu, mà vẫn tràn đầy chất thơ: "Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội/ Trần Hưng Đạo - Lê Lợi - Hồ Chí Minh". Chỉ mấy chữ mà đã làm sống lại cả hào khí dân tộc trong những lúc nước sôi lửa bỏng, truyền thống và hiện tại…
Những hình ảnh của "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" vẫn khắc sâu trong trí nhớ của tôi, dẫu hơn nửa thế kỷ đã trôi đi. Phải chăng người ta vẫn nhận ra sức mạnh, sự trong sáng, chất thơ của những hình ảnh sóng đôi ấy qua một nhật lệnh năm 1975 - được giải mã và hỏa tốc gửi đi vượt suối ngàn, biển cả, hải đảo, vùng bị chiếm đóng… để đến với những người đang mở ra chiến dịch Tây Nguyên - trận mở đầu của cuộc Tổng phản công: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa/ Táo bạo, táo bạo hơn nữa" .... Cũng như vậy, tới hôm nay, câu kết thúc của bài diễn văn 65 năm trước vẫn như một khẩu lệnh thời sự, dẫu diễn giả không còn có thể xuất hiện trên diễn đàn được nữa