Theo cáo trạng từ Viện Công tố Dunedin, vào lúc sẩm tối ngày 25/10/2006 Sean Davison đã đưa cho mẹ đẻ là bà Patricia Davison, 85 tuổi, nữ tiến sĩ khoa học đã nghỉ hưu, một cốc nước hòa lẫn dung dịch morphine nồng độ cao. Sau khi uống cạn, đến nửa đêm nạn nhân đã trút hơi thở cuối cùng nhờ sự tiếp tay của bị cáo. S. Davison là nhà vi sinh học người New Zealand, làm việc tác tại Cộng hòa Nam Phi từ 2 thập niên qua, từ khi hay tin mẹ bệnh nặng nên đã cắt phép trở về quê nhà hòng gần gũi đấng sinh thành cho tròn đạo hiếu.
Đứng trước tòa, S. Davison một mực khẳng định đã làm theo ý nguyện của mẹ, muốn hưởng cái chết êm dịu chấm dứt những cơn đau đớn giày vò cơ thể bấy lâu. Các nhân chứng liên quan cũng ủng hộ quan điểm này... Còn cáo trạng quy kết bị cáo tội cố sát, với khung hình phạt có mức án tối đa là 14 năm tù giam theo luật định.
Bà Patricia cùng chồng là ông Patrick Davison chuyển từ Anh đến New Zealand sau Thế chiến II vì mục đích nghiên cứu khoa học, rồi họ lần lượt sinh hạ được 4 người con. Đến năm 1996, sau khi chồng mất vì bệnh ung thư phổi, bà Patricia khi ấy đã nghỉ hưu chuyển đến Dunedin cho gần cô con gái thứ 3 Joanna đang hành nghề giáo viên. Còn người con trai cả Fergus là nhà y sinh học làm việc ở London (Anh), con gái kế Philippa là chuyên gia lão khoa tại Australia và Sean là con trai út.
Đến năm 2004, khi bà 83 tuổi, thầy thuốc phát hiện bà Patricia mắc chứng ung thư đại tràng. Biết mẹ không còn sống lâu nữa nên cả 3 người con ở nước ngoài luân phiên nhau về chăm bà cụ, 2 năm sau bệnh tình bà Patricia đã chuyển sang giai đoạn cuối, di căn lên gan, phổi và một phần não.
"Vốn là một nhà khoa học nên mẹ tôi thừa hiểu bệnh tình của mình là vô phương cứu chữa - S. Davison nhớ lại - bà cương quyết không chịu hóa trị tiếp, nhịn ăn và chỉ muốn... chết! Mẹ tôi luôn nói rằng, thà dùng một lượng morphine quá liều để thanh thản ra đi, hơn là sống vật vờ thêm nặng gánh cho người thân. Do vậy tôi đã quyết định cắt phép bổ sung để được gần mẹ thêm ngày nào hay ngày ấy". Lúc này bà P. Davison đã lâm vào trạng thái bất động toàn thân và tha thiết muốn tìm đến "cái chết êm dịu".
Gần 3 năm sau cái chết của mẹ, S. Davison cho ấn hành đầu sách mang tựa đề "Before We Say Goodbye" (Khi ta nói lời từ biệt), quy tụ những trang nhật ký anh viết trong thời gian gần gũi chăm sóc người bệnh. Tuy chuyện hòa morphine vào nước uống tác giả không đề cập đến, nhưng đã bị tuần báo Sunday Herald phát giác. S. Davison lập tức bị bắt giam trong tháng 9/2009 về tội cố sát, rồi được cho tại ngoại sau khi đã đóng tiền thế chân bảo lãnh chờ ngày hầu tòa. Tội danh cố sát ban đầu được cáo trạng giữ nguyên.
Trong quá trình xử án, bị đơn lần lượt đưa ra những bằng chứng khó phủ nhận, rằng mẹ mình muốn đi đến "cái chết tự nguyện". Một trong những nhân chứng trước tòa vốn là một chuyên viên hóa sinh, cũng là con trai bà bạn thân của nạn nhân Patricia từng được người bệnh nhờ pha hộ lượng morphine nồng độ cao chuẩn bị sẵn, nhưng anh này đã từ chối vì lý do tôn giáo. Còn luật sư Roger Leiber bào chữa cho bị cáo quả quyết: Tuy cơ thể kiệt quệ nhưng tinh thần cụ Patricia vẫn hết sức minh mẫn, nhận thức đầy đủ việc mình làm chứ không phải do ai ép buộc...
Sau những phiên tranh luận nảy lửa kéo dài, cuối cùng kiểm sát viên Robin Bates giữ quyền công tố tại tòa đã buộc phải thừa nhận, rằng hành vi của S. Davison dựa trên tình bác ái, chứ không phát xuất từ động cơ cá nhân; đồng thời chấp nhận chuyển xuống tội danh "tư vấn và trợ giúp người khác chết", thang bậc hình sự thấp nhất trong các vụ án mạng. Ngoài ra R. Bates cũng nêu thêm luận điểm do nạn nhân không thuộc trường hợp giải phẫu tử thi bắt buộc, nên cũng không loại trừ nguyên nhân bà P. Davison lìa đời chưa chắc đã phải từ cốc nước con trai đưa cho.
Ở phần kết luận trước khi ra phán quyết tuyên phạt bị cáo 5 tháng quản chế, nữ thẩm phán Christine French phân tích: Tại New Zealand cái chết thụ động là hợp pháp, trong khi kiểu chết êm dịu theo thiển ý nạn nhân bị tuyệt đối cấm. Tuy S. Davison đã hành động vì lòng từ bi để giúp người thân, nhưng cũng cần phải có hình phạt thỏa đáng làm gương cho những trường hợp về sau. "Đây là vụ án điểm chứng tỏ pháp luật luôn được thực thi, chứ không là sự trừng phạt cho một tội danh hình sự", Chánh án C. French thổ lộ với báo giới sau phiên xử.
Trong 2 thập niên trở lại đây, Chính phủ New Zealand từng 2 lần đưa ra dự định hợp pháp hóa "cái chết tự nguyện", hay "cái chết êm dịu" nhằm giúp các bệnh nhân trong tình trạng bi đát có một lối thoát, nhưng đều bị Quốc hội kịch liệt phản đối. Trên thế giới, các quốc gia như Italia, Ireland, Pháp và Canada cũng cấm "cái chết êm dịu"; còn các nước như Thụy Sĩ, Luxembourg, Bỉ và Hà Lan, cũng như 3 tiểu bang Oregon, Montana và Washington thuộc Hoa Kỳ lại cho phép áp dụng "cái chết tự nguyện". Trên bình diện quốc tế việc chấp thuận "cái chết êm dịu" đang có xu hướng ngày càng gia tăng