Keith Harmon Snow, một phóng viên chiến tranh kiêm điều tra viên độc lập người Mỹ mới đây đã tiết lộ rằng mục tiêu chống khủng bố của
Nỗi oán hận của Trung Đông
Gần một thập niên sau vụ khủng bố thảm khốc 11/9, hỗn loạn và đổ máu vẫn như một bệnh dịch vẫn lan tràn ở
Trong cuốn sách “Dying to win: The Strategic Logic of Suicide Terrorism” - Chết để chiến thắng: Lý luận chiến lược của chủ nghĩa khủng bố tự sát, nhà khoa học chính trị Mỹ Robert Pape phân tích 315 vụ tấn công tự sát trong giai đoạn từ 1998 - 2008 và đưa ra kết luận rằng "mục đích chiến lược và muôn thuở" của chủ nghĩa khủng bố tự sát là để kết thúc sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài. "Gốc rễ của Chủ nghĩa khủng bố tự sát là Chủ nghĩa dân tộc. Đó là một chiến lược cực đoan để đòi độc lập, tự do cho quốc gia", ông Robert Pape viết.
Làn sóng phản đối Hoa Kỳ ngày càng dâng cao ở Afghanistan, Pakistan và bắt đầu lan sang nhiều quốc gia khác từng một thời "thán phục" quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới này. Lực lượng chống lại sự bành trướng của Hoa Kỳ có thể kể tới những phần tử cực đoan đi theo Al-Qaeda, học sinh được truyền giáo tại các madrasas (loại trường dạy tôn giáo chỉ của đạo Hồi, được phát triển từ cuối những năm 80) và những lính chiến dưới trướng của quân đội và lực lượng tình báo Pakistan tham chiến chống Ấn Độ ở Kashmir.
Sự oán giận của người dân Trung Đông được châm ngòi bằng những thất bại liên tiếp từ vô vàn các kế hoạch tái thiết đất nước và đem lại hòa bình mà Hoa Kỳ từng hứa với Afghanistan; trong khi đó, những chiến dịch tìm diệt vẫn tiếp tục, thậm chí cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Hoa Kỳ tiếp tục mở rộng chiến tranh sang Pakistan, khiến người ta liên tưởng tới điều tương tự xảy ra ở chiến tranh Việt Nam khi Lào và Campuchia trở thành những bàn đạp cho lũ hiếu chiến xâm chiếm và thôn tính. Trong khi Pakistan "vô tình" trở thành nạn nhân của Hoa Kỳ, Washington lại bất ngờ tạo mọi điều kiện thuận lợi với kẻ thù "không đội trời chung" của Pakistan, Ấn Độ, thông qua nhiều thỏa hiệp song phương vô cùng có lợi, làm dấy lên làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ ở quốc gia Trung Đông này.
Vẫn biết Hoa Kỳ là một "con hổ" hiếu chiến trên mọi phương diện, một đế quốc chống lại đạo Hồi, và luôn tự nhận mình là người đi khai sáng văn minh, nhưng kỳ thực mọi chuyện không hề có bất cứ mối liên hệ nào với khái niệm dân chủ hay nhân quyền, thậm chí những chính sách mà chính quyền Hoa Kỳ đang theo đuổi để đạt tới tham vọng của mình ít nhiều chưa thể lấy được lòng dân. Afghanistan vẫn tiếp tục chiến tranh, trong khi Pakistan đang trên bờ vực sụp đổ.
10 năm trước, công cuộc chống khủng bố mới thực sự bắt đầu bùng nổ, không chỉ trên lãnh thổ Hoa Kỳ, mà trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Cái chết của Bin Laden, trên một phương diện, đánh dấu thành công to lớn khi tên trùm khủng bố bị truy đuổi gắt gao nhất thế giới đã bị tiêu diệt. Tuy nhiên, không có nghĩa cuộc chiến khủng bố đã chấm dứt, trái lại, nó là một nút thắt để các thế lực khủng bố đang manh nha lớn mạnh và ra sức "trả thù" cho Bin Laden.
Cuộc chiến chống khủng bố tiêu tốn thời gian, nhưng với sự bất đồng và lệch hướng trong các khối liên minh, mọi chuyện trở nên ngày càng khó khăn, đặc biệt đối với những quốc gia nghèo đói, những "con nợ" của thế giới đang trở thành mặt trận của đế quốc và lực lượng khủng bố. Thất bại của Hoa Kỳ tại Trung Đông là sự bất lực trước lời hứa "chắc như đinh đóng cột" trong quá trình tái thiết nhà nước và xây dựng cơ sở hạ tầng sau chiến tranh.
Nhiều người dám thẳng thắn cho rằng những lời hứa từ thời Tổng thống Bush còn đương nhiệm hoàn toàn vô nghĩa, tuy nhiên đến khi Tổng thống Obama lên nắm chính quyền, ít người còn nghe thấy những lời hứa kiểu như vậy, cho dù chẳng ai rõ về những chiến lược của Hoa Kỳ đối với Afghanistan và Pakistan, nhất là sau khi Bin Laden bị tiêu diệt. Khi Tổng thống Obama nhậm chức, ông thừa hưởng di sản từ người tiền nhiệm là hai cuộc chiến tranh đẫm máu và tốn kém ở Iraq và Afghanistan. Tuy nhiên, bỏ ngoài tai lời khuyên của Phó tổng thống và Đại sứ Mỹ ở Kabul, Obama vẫn quyết định theo đuổi các cuộc chiến vô vọng này bằng cách gửi thêm 30.000 quân Mỹ đến Afghanistan để bế tắc vẫn hoàn bế tắc.
Rõ ràng việc khởi động một cuộc chiến tranh mặt đất là quyết định sai lầm đã sờ sờ ngay trước mắt. Không biết bao nhiêu lính Mỹ phải bỏ mạng ở Afghanistan trong hơn hai năm qua của Tổng thống Obama và trong hai nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Bush. Và bất chấp quyết định rút quân của ông Obama gần đây, vẫn có nhiều lính Mỹ đang chiến đấu chống lại Taliban ở Afghanistan vào cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Obama hơn là thời điểm đầu nhiệm kỳ. Trong khi đó, Iraq, dù trở thành một cuộc chiến bị lãng quên nhưng một điều đáng ngạc nhiên là vẫn có 47.000 lính Mỹ đang đóng quân ở đây.
Mục đích của Hoa Kỳ và câu hỏi về "dấu chấm hết" cho chiến tranh ở Trung Đông
Dù đã chi hàng tỉ USD cho hàng loạt các chiến dịch chống khủng bố và hỗ trợ các quốc gia thuộc vùng chiến, chương trình nghị sự về xã hội của Hoa Kỳ bắt đầu được "tỉa ngắn" dần, để lại những khoảng trống cần thiết cho các chính sách quân sự/phi quân sự thuộc quyền kiểm soát của quân đội quốc gia và Cục Tình báo trung ương (CIA), nơi đưa ra định nghĩa "chống bạo động, trên thực tế, là một công cụ tuyệt vời để làm bình ổn thế giới".
Tại Afghanistan, lực lượng đặc nhiệm Mỹ liên tục thực hiện các cuộc tuần tra ban đêm và truy bắt/tiêu diệt các mục tiêu được lập thành danh sách, trong khi đó CIA không ngừng nghỉ không kích, thay vì đánh bom B52 như những cuộc tấn công trước ngày 11/9, với ý đồ làm suy yếu Taliban. Tưởng chừng có thể vui mừng vì những chiến lược sắc sảo và hiệu quả, thế nhưng nạn nhân là người dân Afghannistan vô tội. Trên thực tế, không một cá nhân nào có khả năng định lượng sự thành công của phương Tây khi thực hiện mục tiêu xóa sổ Al-Qaeda hay Taliban.
John O. Brennan, cố vấn chống khủng bố của Tổng thống Obama cho biết, trong năm 2011, "chưa hề ghi nhận bất cứ một sự thiệt mạng nào ngoài ý muốn" khi các cuộc tấn công cứ liên tục nổ ra. CIA càng có cớ để lật lọng rằng chỉ có bên tham chiến là thiệt mạng (khoảng 600 lính) trong khi đó dân thường chưa mất một ai. Người Afghanistan và Pakistan không lấy đó làm niềm vui, trái lại họ tuyệt vọng yêu cầu các cuộc tấn công và những chuyến tuần đêm chấm dứt. Cũng từ đây, làn sóng chống đối Hoa Kỳ bắt đầu bùng nổ, đơn giản vì mọi yêu cầu thuộc nhân quyền đều bị khước từ.
Hoa Kỳ từ từ "nhúng tay" vào nội bộ quốc gia Afghanistan và Iraq với không một bản kế hoạch chi tiết nào cho đối phương biết hành động. Toàn bộ những cựu tư lệnh bị Taliban ruồng bỏ cuối những năm 90 được CIA chiêu mộ lại, được đào tạo và hoạt động ngầm dưới danh nghĩa những doanh nhân, nhà buôn hay những trùm tư bản giàu có.
Mục đích riêng mà Keith Harmon Snow nhấn mạnh là nước Mỹ muốn cả thế giới nhận thấy sự lây lan của chủ nghĩa khủng bố quốc tế sau sự kiện 11-9 để làm gia tăng nỗi lo sợ trong họ và cáo buộc động cơ này chỉ nhằm tạo ra sự đột biến trong ngành sản xuất thiết bị quân sự của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất các máy bay không người lái. "Ngành công nghiệp quốc phòng thực sự bùng nổ sau sự kiện 11/9. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld thời điểm đó ngay lập tức thông qua một dự luật cho phép tăng cường các thỏa thuận quốc phòng liên quan đến việc chế tạo và sản xuất các thiết bị quân sự trong đó có các máy bay không người lái".
Báo cáo Quốc hội gần đây cho biết Hoa Kỳ đã tiêu tốn xấp xỉ 31 tỉ USD khi không ngừng cung cấp những thỏa thuận làm ăn béo bở tại Iraq và Afghanistan. Năm 2001, Washington "mạnh tay" chi tới 20 tỉ USD vào thị trường Pakistan song chưa hề có dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế hơn một thập kỷ qua; thay vào đó, hàng loạt những vũ khí mới hiện đại được trang bị cho quân đội, chiếm ưu thế hoàn toàn của cơn khát nhà máy điện hay trường học cho trẻ em.
Trên thực tế, quân đội Pakistan cũng được hưởng lợi từ những cuộc đổi chác của Hoa Kỳ, tuy nhiên chưa bao giờ lực lượng này được công nhận là đồng minh thực sự của Hoa Kỳ. Quân đội Pakistan tự xây dựng hệ thống phòng thủ phía sau tầm ảnh hưởng của chính quyền Tổng thống Bush và Taliban. Trải qua các cuộc chiến, nỗi sợ ngày càng tăng lên khi Hoa Kỳ có dấu hiệu liên kết với Ấn Độ; vì thế Pakistan quyết định duy trì những phần tử cực đoan được đào tạo từ những năm 90 để chiến đấu chống lại các thế lực xâm chiếm. Tuy nhiên, lực lượng quân đội nhanh chóng mất kiểm soát, những phần tử cực đoan gia nhập Taliban và tiến hành cuộc chiến ngay trên đất mẹ.
Là quốc gia có căn cứ vũ khí hạt nhân lớn thứ tư trên thế giới, Pakistan ngày càng trở nên bất ổn từ khi can dự vào cuộc chiến tại Afghanistan. Quay lại lịch sử 30 năm trước, cuộc chiến những năm 80 chống Liên bang Xôviết (cũ) được CIA châm ngòi, Arập "đài thọ" toàn bộ chi phí và Cục Tình báo trung ương Pakistan làm nhiệm vụ thông tin do thám. Kể từ sau 11/9/2001, Pakistan, từng chịu sự thống trị dưới nền độc tài chuyên chế theo phe Hoa Kỳ, bị cuốn vào vòng xoáy ở Afghanistan, và tiếp tục "an phận" dưới chế độ cai trị hàng thập kỷ về trước.
Trong khi đó, những người đứng đầu Afghanistan và Pakistan lại nhân cơ hội này để vực dậy một nền chính trị đang đi xuống và viện cớ giải thích cho những sai sót. Tổng thống Afghanistan, Hamid Karzai, trở thành bậc thầy khi "dùng nước mắt" để mô tả tội ác và sự lât lọng của Hoa Kỳ, nhưng lại không thể chống lại sự suy thoái của cả một đất nước hay tìm ra số ít những nhân tài có khả năng vực dậy Afghanistan.
Tuy nhiên, vẫn không có gì là chắc chắn, bởi ở thời chính quyền Obama, trước thời hạn quân đội Mỹ phải rút khỏi Iraq vào ngày 31/12/2011, lãnh đạo quân sự Mỹ từng muốn chính phủ cho phép để lại Iraq 10.000 quân. Và hơn nữa, mới đây trong các phiên điều trần tại Thượng viên Mỹ, tân Bộ trưởng Quốc phòng, Leon Panetta, người ủng hộ chính sách diều hâu tự tin khẳng định rằng chính quyền Iraq sẽ "yêu cầu" quân đội Mỹ ở lại lâu dài ở nước này trước cuối năm nay.
Theo nhà sử học Charles Beard thì học thuyết an ninh quốc gia của các đời tổng thống Mỹ là "Chiến tranh vĩnh viễn cho hòa bình vĩnh viễn". Chính vì thế, bất chấp giải Nobel hòa bình được trao cho mình, Tổng thống Obama rõ ràng đang chứng tỏ các cuộc chiến do Mỹ dẫn đầu sẽ không có hồi kết