Hồ sơ chuyên án đầu tiên bắt gián điệp biệt kích nhảy dù xuống miền Bắc (Kỳ 2)

Trước khi trở thành lính của Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống, cả 4 thành viên toán Castor đều là lính của sư đoàn 22 quân đội Việt Nam Cộng hòa. Với chủ trương tìm người dân tộc thiểu số ở miền Bắc trong các đơn vị quân đội, Lê Quang Tung đã cho rà soát tại tất cả các đơn vị. Giữa năm 1960, sĩ quan tình báo của sư đoàn 22 đã phát hiện ra Hà Văn Chấp, Đinh Văn Anh, Lò Văn Piếng, Quách Thức có đủ các điều kiện mà Tung đưa ra.

KỲ II: TIẾP ĐẤT VÀ CHẠY TRỐN

Hà Văn Chấp sinh năm 1927 ở Bản Mứng, xã Mường Chêng, châu Quỳnh Nhai, Lai Châu. Năm 17 tuổi, Chấp đi lính khố xanh và đóng quân ở thị xã Lai Châu. Tháng 4-1945, khi đơn vị được lệnh sang Trung Quốc đánh quân Nhật, trên đường hành quân, Chấp sợ chết nên bỏ trốn về quê làm ruộng. Đầu năm 1947, khi Pháp chiếm thị xã Lai Châu, Chấp lại được tuyển vào làm lính và cho đeo quân hàm binh nhì.

Sau hai năm, Chấp được cho đi học và phong quân hàm hạ sĩ và làm thư ký quân số tiểu đoàn 51 quân đội Liên hiệp Pháp. Tháng 4-1954, Chấp theo chỉ huy tiểu đoàn vào Sài Gòn. Tiểu đoàn này sau đó sáp nhập vào trung đoàn 42, Sư đoàn 22 bộ binh của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tháng 4-1960, khi đang làm lính tiếp liệu ở trung đoàn 42, Hà Văn Chấp nhận lệnh chuyển về lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống.

Đồng bào kịp thời báo cho lực lượng trực chiến về dấu vết của gián điệp biệt kích xâm nhập.
Đồng bào kịp thời báo cho lực lượng trực chiến về dấu vết của gián điệp biệt kích xâm nhập.

Cũng như Chấp, Đinh Văn Anh, người Mường, sinh năm 1931 ở Bản Lúa, xã Tân Phong, châu Phù Yên, Sơn La. Tháng 10-1960, đang làm lính ở đại đội trọng pháo, trung đoàn 42, Đinh Văn Anh được gọi lên thị xã Quy Nhơn để trình diện trung úy Nghệ, người của Văn phòng Phủ Tổng thống.

Sau cuộc gặp này, Đinh Văn Anh nhận quyết định chuyển về Lữ đoàn liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống. Bằng tuổi Đinh Văn Anh, Lò Văn Piếng người dân tộc Thái sinh ra ở Thuận Châu, Sơn La, cũng từng là lính trung đoàn 42. Còn Quách Thức trước khi được tuyển về lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống từng làm ở ban truyền tin trung đoàn 42.

***

Sau khi kết thúc khóa huấn luyện, một buổi sáng giữa tháng 3-1961, từ sân bay Tân Sơn Nhất, toán Castor lên máy bay ra sân bay Biên Hòa, Đồng Nai, để buổi chiều sẽ ra Đà Nẵng. Đến nơi, đại úy Bình, nhân viên Phòng 45, người trực tiếp huấn luyện, đưa cả toán vào một căn phòng ở căn cứ không quân Biên Hòa. Tại đây, một nhân viên khác của Phòng 45 là đại úy Lò Ngân Dũng, người sẽ trực tiếp chỉ huy từ xa khi Castor ra Bắc, đã chờ sẵn, bên cạnh có một tấm bản đồ lớn đặt trên bàn và một tấm không ảnh.

Hà Văn Chấp nhớ lại: "Đại úy Bình cho chúng tôi xem tấm ảnh chụp một thung lũng, xung quanh là núi thấp. Thung lũng này có một con suối nhỏ, cách xa đó có một chỏm nhà trên núi, Bình chỉ vào thung lũng trong ảnh rồi chỉ vào một vị trí trên bản đồ và nói: "Các anh sẽ nhảy xuống đây. Chỗ này có một cái làng của người Mèo cách bãi nhảy khoảng 4 cây số, nhưng nay làng này đã dời đi nơi khác rồi.

Sau khi các anh nhảy xuống đất thì chôn dù ngay và thu lượm đồ đạc, máy móc chuyển qua suối phía tay trái có một khu rừng cây to chọn giấu đồ đạc và nấp ở đó. Sau đó các anh phải đánh điện về báo cáo cho trung tâm biết phi công thả có đúng chỗ không”. Dũng dặn chúng tôi sau khi tìm được chỗ ẩn nấp an toàn, chúng tôi cần tìm về quê liên lạc với gia đình để làm giấy tờ; sau đó đóng giả làm người đi buôn trên sông Đà để nắm tin tức. Bình phát cho chúng tôi mỗi người 250 đồng tiền miền Bắc và nói rằng dùng tiền này làm vỏ bọc buôn bán".

Ngoài số tiền phát chung cho cả nhóm, Hà Văn Chấp còn được Bình đưa cho 900 Kip Lào và 5 đồng bạc trắng hoa xòe. Bình dặn Chấp đây là tiền dùng để đề phòng khi bị lộ, mất hết máy liên lạc thì vượt sông Đà sang Lào rồi đi về tỉnh Phongsalỳ, từ đó đi theo hướng tây nam để về Viêng Chăn hoặc đi dọc biên giới Việt-Lào tìm về Savanakhét rồi liên lạc với trung tâm, Bình sẽ cho người đón về Sài Gòn.

Ngoài tiền bạc, Bình còn phát cho mỗi thành viên Castor một cái áo công tác. Trên cái áo ấy may tới 10 túi nhỏ và một túi to sau lưng, cùng bao súng ngắn may bên dưới nách trái chứa đầy đủ dụng cụ cần thiết gồm: một khẩu súng ngắn Browning kèm 3 băng đạn, 1 cái áo sợi, một bộ quần áo vải đen, một con dao con, một đèn pin, hai bản đồ, một bao thuốc lá hiệu "Hoàn Kiếm", một bao diêm "Thống Nhất", một bật lửa Trung Quốc, một cái địa bàn, bút chì, sổ tay, một mũ nồi đen và một khẩu phần lương khô.

Lò Văn Piếng bị bắt sau hai ngày chạy trốn trong rừng.
Lò Văn Piếng bị bắt sau hai ngày chạy trốn trong rừng.

Trong kế hoạch do đại úy Dũng giao cho Đinh Văn Anh cũng đề phòng trong trường hợp toán trưởng Hà Văn Chấp bị thất lạc hay chết thì Anh sẽ thảo công điện, mật mã hóa rồi đưa cho Piếng đánh điện. Nội dung bức điện này sẽ là: "Nhảy xuống có an ninh, nhưng khi di chuyển bị du kích, bộ đội bắt, không thấy Castor 3, 4 đâu, không biết bị bắt hay thất lạc". Dũng dặn Đinh Văn Anh rằng phải tìm địa điểm an toàn trong khu rừng kín, xa làng mạc để làm nơi ở và lập căn cứ.

Sau khi tìm được nơi ở có thể tìm dân chúng để tuyên truyền gây cơ sở như tìm gặp người nào đi rừng, đi làm nương gặp họ thì nói mình từng đi lính cho Pháp, giải ngũ rồi đi sang Lào làm ăn nhưng không sống được nay quay về Việt Nam nhưng sợ bộ đội bắt, nhờ bà con mua bán cho lương thực và thức ăn. Khi đã gây được niềm tin với dân thì sẽ đưa tiền nhờ họ mua giúp lương thực, tiếp tế và dặn họ địa điểm liên lạc. Nhưng mỗi lần trước khi gặp họ để nhận đồ tiếp tế thì phải đứng ở một nơi quan sát, nếu họ đến một mình thì gặp, nếu họ đi đông người hoặc không đến chỗ hẹn thì phải trốn đi nơi khác.

Sau lần đầu đi nhảy dù không thành trở về, 3 chuyến đi trong tháng 4-1961, cả Dũng và Bình vẫn yêu cầu Castor nhảy dù xuống địa điểm ven sông Đà, phía bắc Văn Yên khoảng 25km, nơi đó khúc sông hình chữ "S", có bãi cát và rừng non, cạnh đó là rừng già, không nhảy xuống vùng Tạ Khoa vì khu vực đó khó và xa.

***

8 giờ sáng ngày 27-5-1961, lần thứ 7, toán Castor lại lên máy bay ra Đà Nẵng để tối hôm đó sẽ bay ra miền Bắc. Sở dĩ từ Sài Gòn phải bay ra Đà Nẵng vì C47 là loại máy bay vận tải có tầm hoạt động ngắn nên không thể bay thẳng từ Sài Gòn ra miền Bắc được mà phải xuống Đà Nẵng để tiếp nhiên liệu. Đi cùng toán Castor ra Đà Nẵng ngoài phi hành đoàn còn có đại úy Dũng, người sẽ chỉ huy từ xa với Castor khi toán hoạt động ở miền Bắc. Ra tới Đà Nẵng là 12 giờ trưa, đại úy Dũng đưa cả toán vào câu lạc bộ không quân ở trong sân bay ăn nghỉ.

20 giờ 45 phút, cả toán lên máy bay. Đại úy Dũng ở lại Đà Nẵng, lúc này chỉ còn phi hành đoàn 4 người do thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy. Trước khi chia tay, Dũng vẫn dặn cả toán nhảy dù xuống địa điểm phía bắc Văn Yên. Tuy nhiên, khi máy bay cất cánh, thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ thông báo lại rằng tùy theo tình hình, nếu tới nơi xem có thể được thì xuống bãi sông Đà, còn không thì sẽ vẫn nhảy xuống Tạ Khoa.

22 giờ 5 phút, khi máy bay đến địa điểm nhảy dù ở Tạ Khoa, đèn đỏ trên khoang bật sáng, cửa máy bay từ từ mở ra; vài phút sau đèn xanh bật lên, chuông reo, 3 nhân viên trong phi hành đoàn phụ trách việc nhảy dù lần lượt đẩy hai kiện hàng ra trước, tiếp đến Hà Văn Chấp lao ra khỏi máy bay rồi lần lượt Lò Văn Piếng, Quách Thức, Đinh Văn Anh. Khi Anh vừa rời khỏi máy bay, Nguyễn Cao Kỳ vội vã chuyển hướng bay sang Lào. Chỉ vài phút sau, chiếc C47 đã mất hút vào màn đêm.

20 năm sau cuộc chiến Việt Nam, Sedgwick Tourison, một cựu sĩ quan phân tích tin của Cục Tình báo quốc phòng Mỹ, từng có thời gian tham chiến ở Việt Nam, sau khi khai thác các hồ sơ giải mật của Chính phủ Mỹ và phỏng vấn nhiều gián điệp biệt kích, các nhân viên CIA từng  tham gia hoạt động gián điệp của CIA ở miền Bắc giai đoạn 1961- 1970, đã viết cuốn sách "Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật".

Trong cuốn sách này, Sedgwick Tourison viết về giây phút Castor vừa nhảy dù xuống miền Bắc: "Vừa đặt chân xuống đất được vài phút thì những ngọn lửa bập bùng đã tỏa ra để chào đón các biệt kích của Nam Việt Nam. Họ dùng điện đài gọi binh sĩ thuộc lực lượng chống biệt kích của quân khu Tây Bắc đến để lùng bắt các biệt kích đang lẩn trốn. Đinh Văn Anh, một trung sỹ của quân lực Nam Việt Nam, chạy trốn được hai ngày rồi cũng bị bắt. Đinh Văn Anh là người giữ mật mã của toán Castor. Trong cuốn sổ mật mã của anh ta đầy rẫy những khối chữ số được mã hoá bằng máy tính điện tử. Thế là những người bắt biệt kích Bắc Việt đã có đủ mọi thư á- hầu như thế…".

Sau này, khi đã "yên vị" trong trại giam, Lò Văn Piếng nhớ lại: "Xuống đến đất, nghe tiếng súng, sợ quá tôi chạy trốn. Ông Anh cũng chạy với tôi sang quả núi khác, chạy loanh quanh trong rừng. Đói quá, may mà Anh còn một cái bánh, chúng tôi ăn. Sau đó chúng tôi phải ăn lá cây. Trong thời gian chạy trốn, chúng tôi bàn đi về quê Anh để tìm cách liên lạc với gia đình, kiếm ăn rồi sẽ tùy tình hình tính tiếp. Anh nói về bản cũng sợ vì tình hình bây giờ đã thay đổi nhiều. Chúng tôi chạy chừng hai ngày đêm thì bị bắt. Hôm bị bắt, hai chúng tôi đang đứng trên núi, nghe tiếng hô đứng lại, hai chúng tôi lăn từ trên núi xuống, súng bắn nhiều, sợ quá tôi giơ tay hàng".

Còn Hà Văn Chấp kể: "Trong khi dù còn đang vướng vào một cành cây cách mặt đất khoảng hơn 2m thì tôi nghe thấy tiếng la ó ở gần đó. Tôi đâm sợ, giật dù cho rơi xuống thì nghe thấy tiếng súng nổ rất gần. Tôi vội tháo dù, tháo áo nhảy dù, trên người chỉ còn mặc chiếc "áo công tác" và một bình nước, tôi bắt đầu chạy. Lúc bấy giờ, tôi dùng địa bàn nắm hướng, tôi chạy theo hướng tây đến một quả núi gần đó, tôi chui vào một bụi rậm có cây cối, có nhiều cây nứa, tôi móc túi sau ra quyển "Hiệu triệu Hồ Chủ tịch", tháo thắt lưng và ca uống nước nhét vào bụi nứa rồi lại chạy tiếp. Khi lên đến đỉnh núi, tôi nằm xuống đám cỏ tranh nghỉ một lúc thì trời sáng. Tôi đứng trên đỉnh núi nhìn xuống chỗ bãi đã nhảy dù thì không thấy mấy tên cùng nhảy với tôi đâu, cũng không thấy có chiếc dù hay vật gì từ trên máy bay đã thả xuống lúc đêm. Chỉ thấy ở cách chỗ tôi nhảy độ 60m có hai làng đồng bào ở. Chính giữa hai làng có một đám ruộng lúa, gần đó là cái bãi mà chúng tôi đã nhảy. Không có lương thực nên không ăn uống gì cả, tôi dùng địa bàn ngắm hướng tây nam đi. Tôi định sang sông Đà để đến biên giới Việt Lào rồi trốn sang Lào. Cả ngày 28-5, tôi đi suốt ngày, tối ngủ lại trên rừng. Ngày này tôi không ăn uống gì cả, lúc ấy trong túi tôi có 2 thẻ bánh được phát phòng khi trốn tránh bị đói, nhưng tôi không ăn mà cố nhịn để đến sông Đà ăn lấy sức bơi sang sông. Sáng 30-5, tôi gặp một con suối nhỏ. Tôi đi dọc con suối này để tìm sông Đà, khi ra khỏi suối, tôi gặp 3 người đàn ông đi thuyền con dọc sông Đà, họ hỏi giấy tờ, tôi không có, họ bắt luôn, trói lại bỏ xuống thuyền chở tôi về làng cách đó độ 100m. Ba ông này đưa tôi về làng, cho ăn uống rồi dẫn giải tôi bằng thuyền đến một làng khác dọc theo đường ôtô. Chúng tôi đi theo đường ôtô đến một nơi có ôtô đỗ, họ cho tôi lên xe chở tôi về thị trấn Phù Yên".

Về đến Phù Yên, Chấp bất ngờ gặp lại cả toán Castor. Hóa ra Quách Thức bị bắt đầu tiên vào chiều 28-5 rồi đến Anh, Piếng. Vậy là sau 3 ngày nhảy dù xuống đất Bắc, toán Castor chính thức bị xóa sổ.

Nhiều năm sau, nhắc lại cái đêm 27-5-1961 ấy, Hà Văn Chấp vẫn không lý giải được tại sao khi ở căn cứ, các chỉ huy luôn khẳng định kế hoạch ra Bắc của nhóm Castor đã được chuẩn bị kỹ lưỡng tới từng chi tiết, vậy mà vừa xuống tới mặt đất, cả nhóm đã bị đánh tan tác?

Nguyễn Thiêm - Anh Hiếu

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.