Mặt trận Trị Thiên Huế được chia thành 5 khu vực tiến công: Quảng Trị; Bắc Thừa Thiên; Thành phố Huế và ven đô; Đồng bằng phía nam Huế; Khu vực giao thông trên trục đường số 1 từ Động Truồi đến giáp Quảng Nam. Kế hoạch chiến dịch được chia làm 2 đợt: đợt 1 từ 5/3 đến 14/3/1975; đợt 2 từ 21/3/1975.
Từ giữa tháng 2/1975, đồng chí Nguyễn Đình Bảy, Phó Trưởng ban Thường trực Ban An ninh Khu đã đưa toàn bộ cơ quan An ninh khu từ phía bắc Thừa Thiên vào hướng trọng điểm chiến dịch ở phía nam Thừa Thiên, cùng lãnh đạo An ninh Thừa Thiên Huế thống nhất kế hoạch công tác và bố trí lực lượng tham gia chiến dịch. Riêng 2 khu vực trọng điểm ở đồng bằng, đồng chí Nguyễn Trung Chính, Thường vụ tỉnh ủy, phụ trách An ninh Tỉnh được Đảng ủy Mặt trận phân công làm Phó Chính ủy Ban chỉ huy chung cánh Bắc và trực tiếp làm Trưởng ban chỉ đạo ba huyện cánh bắc Thừa Thiên. Đồng chí Nguyễn Mưng, Phó Trưởng ty An ninh tham gia Ban chỉ đạo cánh Nam Thừa Thiên.
Các lực lượng điệp báo, an ninh, trinh sát vũ trang, an ninh các huyện, thành phố được bố trí tham gia các mũi tiến công từng khu vực ở đồng bằng và thành phố. Khu vực Quảng Trị được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công an, ngoài lực lượng tại chỗ, Bộ đã chủ động chuẩn bị cả lực lượng Công an Vĩnh Linh, tập trung huấn luyện hàng ngàn cán bộ Công an miền Bắc cùng hàng tấn phương tiện, tài liệu, thông cáo phục vụ quản lý vùng giải phóng, đón thời cơ kịp thời chi viện cho An ninh Trị Thiên Huế, đặc biệt là Huế.
* * *
Tháng 6/1967, từ Thừa Thiên, tôi được điều động về nhận công tác tại Ban An ninh Khu Trị Thiên Huế. Cơ quan đóng tại Khe Mung, động Chuối, thượng nguồn sông Ô Lâu, phía tây huyện Phong Điền. Tôi được lãnh đạo Ban phân công về huyện Phú Vang (Thừa Thiên) là một căn cứ lõm vùng sâu, phía đông nam thành phố Huế.
Ngày lên đường, đồng chí Nguyễn Thành Khiêm (tức Nguyễn Đình Bảy, Bảy Khiêm), Phó trưởng ban An ninh Khu nắm chặt tay chúc sức khỏe, hoàn thành nhiệm vụ hẹn ngày trở về. Đồng chí Bảy Khiêm là một cán bộ từng xông pha, lăn lộn ở chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa và dày dạn kinh nghiệm chỉ huy công tác điệp báo thành Huế thời kỳ chống Pháp.
Từ cơ quan tôi theo giao liên vào huyện Hương Thủy và gặp lại một số đồng chí cũ, trong đó có Lê Như Khánh (Lê Thanh Long) sau 2 năm xa nhau. Chúng tôi biết nhau từ đầu năm 1966, khi ấy Khánh mới 29 tuổi đã tham gia Thường vụ Huyện ủy, Trưởng ban An ninh huyện. Tôi hơn Khánh 9 tuổi, nên Khánh coi như anh. Đêm Hương Thủy, chúng tôi ngồi sát bên nhau, thì thầm kể lại cho nhau nghe về gia đình, về kỷ niệm buổi chia tay vợ con trước ngày lên đường vào
Cũng năm ấy cả vợ tôi và vợ Khánh cùng bồng bế con đỏ hỏn đang bú mẹ tất tả lên Trường C-500 (Học viện An ninh nhân dân bây giờ - tg) thăm chồng vào giữa lúc chỉ còn vài ngày nữa là cả 2 lên đường chi viện vào miền Nam. Thời điểm này nhà trường rất hạn chế việc cán bộ đi B tiếp xúc với gia đình để giữ bí mật chuyến đi. Tôi và Khánh cũng như rất nhiều cán bộ đi B lúc ấy đều phải cố ghìm nén tình cảm của mình, tỏ ra vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra để tránh cho người thân sẽ quá xúc động nếu biết sắp xảy ra chuyến công tác xa chưa hẹn ngày về ấy!
Tôi chỉ được trò chuyện chốc lát ở phòng thường trực, ôm hôn đứa con bé bỏng và thậm chí còn phải động viên vợ: "Hiện nay các anh đang còn thời gian học tập. Chủ nhật tới anh sẽ về Phủ Lý thăm em và con. Con chúng mình còn nhỏ, trời rét, đường xa, xe tàu khó khăn, vất vả lắm, từ nay em không phải lên đây (C-500) nữa, cứ một hoặc hai tuần anh sẽ thu xếp về nhà". Cả tôi và Khánh cũng như nhiều đồng chí khác đều hiểu, đó là những lời động viên cần thiết cho người ở lại, chứ từ lúc đó đến ngày lên đường đâu còn cơ hội về thăm nhà nữa!
Câu chuyện giữa hai người đang cuốn hút, chợt Khánh dừng lại, với vẻ đăm chiêu nhìn tôi, nói thẫn thờ: "Anh Thi, công tác ở huyện gian khổ lắm. Em là cán bộ lãnh đạo, phải gương mẫu. Hy sinh là chuyện khó tránh khỏi. Nếu em có mệnh hệ nào mà anh còn sống, thì anh cố tìm phần còn lại của em và đưa em về quê hương nhé!". Tôi sững sờ. Ngay thời khắc ấy, mặc dù tìm lời động viên Khánh, nhưng chính bản thân tôi cũng nghĩ thật không khỏi đau xót nếu chuyện đó xảy ra, với tôi, với Khánh hay bất kỳ một người đồng chí nào khác. Vợ, con chúng tôi sẽ sống ra sao? Sẽ đau khổ đến mức nào? Nhưng đó là sự nghiệp Cách mạng, nếu không có người chịu hy sinh, làm sao có kháng chiến thắng lợi, có độc lập, tự do, thống nhất, có gia đình hạnh phúc cho mọi người? Niềm an ủi trào lên tự đáy lòng làm hai bên má tôi đầm đìa. Tôi quay vội mặt đi, tránh cái nhìn thẫn thờ của Khánh…
Và rồi niềm lo lớn nhất ấy cũng xảy đến. Khánh hy sinh! Hy sinh một cách anh dũng. Trong một trận chống càn, khi địch xăm trúng hầm bí mật, Khánh đã bật nắp hầm, quyết sống mái với kẻ thù trong tiếng nấc nghẹn ngào của những đồng đội khác đã vì sự hy sinh của anh mà được giữ bí mật. Trang 85, Lịch sử CAND Thừa Thiên Huế 1954 - 1975 đã ghi nhận công lao của người cán bộ an ninh ấy: "Ở Hương Thủy, đồng chí Lê Như Khánh, chỉ huy lực lượng an ninh cùng đồng chí Nguyễn Việt Văn, cán bộ chỉ đạo của Huyện ủy đã xây dựng 7 cơ sở nội tuyến trong hai trung đội nghĩa quân ở đồn Thanh Thủy Chánh. Khi đồng khởi nổ ra, lực lượng an ninh ta có sự phối hợp của cơ sở nội tuyến tiêu diệt đồn Thanh Thủy Chánh".
Tâm nguyện của Khánh đã được tôi và các đồng đội Công an 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và Nam Hà thực hiện ít lâu sau ngày giải phóng. Nhưng hình ảnh người chiến sĩ an ninh bất khuất kiên cường thì vẫn sẽ còn sống mãi trong lòng đồng bào, đồng chí, đồng đội.
Sau Tết Mậu Thân 1968, địch tập trung đánh phá rất khốc liệt huyện Phú Vang qua các chiến dịch "Phượng hoàng", "Quét giữ". Đây là thời kỳ vô cùng khó khăn gian khổ, ác liệt. Số cán bộ lãnh đạo an ninh huyện được bố trí ở lại bám trụ trong dân lần lượt thay nhau hy sinh gần hết. Có những đồng chí được cấp ủy bố trí ở lại bám trụ phong trào, trải qua 2 năm kiên trì, gan góc với cuộc sống lấy đất làm giường, lấy hầm làm nhà, trời mưa đội trời che thân, giá rét lấy sương sưởi ấm, đói lòng lấy nước thay cơm đã trở thành những biểu tượng về tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất làm cho bọn tề, ngụy trong vùng phải khiếp sợ và kính nể.
Một trong số đó là cán bộ an ninh huyện Lê Văn Trĩ. Ngay cả sự hy sinh của Trĩ cũng khiến bọn địch cảm thấy hoang mang bởi sự vững vàng của ý chí người Cộng sản giữa bố ráp, trùng vây mà chúng lập ra. Trong một lần đi sinh hoạt với cơ sở, trên đường trở về hầm bí mật bị lọt vào ổ phục kích của địch, Trĩ lúc này đã được đề bạt làm Phó trưởng ban An ninh huyện đã anh dũng bắn trả đến viên đạn cuối cùng, diệt 2 tên địch tại chỗ, làm bị thương nhiều tên khác. Lê Văn Trĩ đã xứng đáng được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Phải nói rằng, bên cạnh lực lượng bộ đội chủ lực đóng vai trò chính giải phóng các địa phương, thì một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các đơn vị an ninh cùng lúc ấy là phải tiếp quản và làm chủ được địa bàn đã được giải phóng. Ở Huế, ngay trong những ngày đầu ta làm chủ thành phố, lực lượng an ninh đã tranh thủ thời cơ xông vào các trụ sở ngụy quyền, phòng văn khố - cơ quan lưu trữ tài liệu, đặc biệt là nhà ở, văn phòng và trung tâm thẩm vấn của CIA tại đây, thu giữ được hàng chục gùi tài liệu tối mật, kịp thời phối hợp với bộ phận trung chuyển đưa lên căn cứ tại trại giam của an ninh khu.
Biết tin này, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn lúc ấy kịp thời chỉ đạo Tổ điệp báo T65 đang hoạt động ở địa bàn Quảng Trị cử cán bộ vào khai thác và đã thu được nhiều tin, tài liệu rất quan trọng về hệ thống tổ chức, phương thức hoạt động, mạng lưới cộng tác viên của CIA ở Sài Gòn và các vùng chiến thuật ngụy ở miền Nam; phát hiện mâu thuẫn giữa CIA và DIA (Cơ quan Tình báo quân sự Mỹ); về đánh giá tình hình và cách thức chống Cộng, kết luận của CIA về thất bại của kế hoạch tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc…
* * *
Phối hợp chặt chẽ với chiến dịch Tây Nguyên mở màn trước đó, ngay trong đêm 5/3/1975, hàng ngàn chiến sĩ lực lượng vũ trang, chính trị tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó có lực lượng an ninh đã vượt qua các tuyến phòng thủ, ngăn chặn dày đặc của địch ở giáp ranh tiến về bám trụ an toàn ở đồng bằng chờ lệnh đồng loạt tiến công. Đây là một thắng lợi rất quan trọng về công tác bảo vệ bí mật cho chiến dịch.
Ngày 8/3/1975, đúng 21h quân ta đồng loạt nổ súng. Lực lượng Quân đoàn II và Quân khu đã tiêu diệt nhiều cứ điểm quan trọng của địch, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn tên địch, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch, chiếm được những địa bàn xung yếu có giá trị chiến thuật uy hiếp địch. Ở đồng bằng, lực lượng ta bất ngờ tấn công vào 30 phân, chi khu địch, hỗ trợ nhân dân 33 xã nổi dậy diệt ác, trừ gian, giành quyền làm chủ, phá sản hệ thống kìm kẹp của địch, trực tiếp uy hiếp hậu phương của chúng, tạo thuận lợi cho đợt 2 chiến dịch.
Trước ngày mở chiến dịch đợt 2, Đại đội Trinh sát vũ trang 201 Ty An ninh Quảng Trị đã phối hợp với bộ đội địa phương tấn công địch dọc tuyến sông Mỹ Chánh, đột nhập vào xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng, đánh chiếm trụ sở ngụy quyền xã, diệt nhiều tên địch và tiếp tục luồn sâu xuống vùng Lam Điền nắm tình hình, góp phần tạo hành lang phục vụ lực lượng ta tấn công địch.
Ngày 19/3, tại mặt trận Quảng Trị, lực lượng ta đồng loạt tấn công, nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ của địch, buộc chúng phải tháo chạy và co cụm ở phía bắc Thừa Thiên. Tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng. Lực lượng an ninh Quảng Trị kịp thời vào chiếm giữ một số cơ quan trọng yếu, thu hồi nhiều tài liệu quan trọng của địch và triển khai các biện pháp quản lý vùng giải phóng, ổn định tình hình.
Sáng ngày 26/3/1975, lá cờ giải phóng rộng 8 mét, dài 12 mét được kéo lên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu đánh dấu thời khắc lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế và chiến trường Trị Thiên sạch bóng quân thù.
Từ căn cứ A Lưới, bám sát mũi tiến công phía tây nam Huế, đội hình Ban An ninh Khu và An ninh Tỉnh đã vào Huế, kịp thời chỉ đạo chiếm lĩnh các địa điểm trọng yếu. Cùng với lực lượng tại chỗ, Bộ Công an kịp thời chi viện hơn 500 cán bộ, chiến sĩ an ninh, cảnh sát, công an vũ trang do đồng chí Lê Đình Thảo, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội làm trưởng đoàn giúp Ty An ninh Thừa Thiên Huế bảo vệ các cơ quan đầu não, lễ mít tinh toàn thắng, các mục tiêu trọng yếu khác như Đài phát thanh, Đài truyền hình, nhà máy nước, nhà máy điện… nhanh chóng ổn định tình hình chính trị và giữ vững an ninh trật tự cho nhân dân