Emma Lazarus và Nữ thần Tự do của nước Mỹ

Emma Lazarus chưa từng trực tiếp nhìn thấy Nữ thần Tự do khi bà viết "The New Colossus", và có lẽ bà cũng không mấy quan tâm tới mục đích của những người Pháp khi tặng món quà này cho nước Mỹ - một biểu tượng trường tồn của chủ nghĩa cộng hòa và dấu chấm hết cho chế độ nô lệ.

"Cứ đến đây đi những người kiệt sức, nghèo khổ

Những người nheo nhóc khao khát hơi thở tự do"

Những người từng tới thăm biểu tượng của nước Mỹ tại New York chắc hẳn đều biết đến những câu thơ này. Song ít ai biết rằng đó là những vần thơ được Emma Lazarus viết vào cuối năm 1880, với cảm hứng lấy từ hình ảnh đoàn người tị nạn Do Thái tìm đến New York để trốn khỏi cuộc tàn sát ở miền Đông Châu Âu.

Bài thơ được khắc trên một tấm biển ở dưới chân tượng Nữ thần Tự do ở thành phố New York vào năm 1903, gần 10 năm sau khi tác giả đã qua đời.

Gốc gác Do Thái

Emma Lazarus sinh năm 1849 tại khu dân cư trung lưu Union Square, thành phố New York. Bà là con thứ 4 trong gia đình Do Thái gốc Tây Ban Nha có 7 anh chị em. Cha của Lazarus là một nhà buôn đường giàu có, có tổ tiên là những người Do Thái đầu tiên đặt chân tới New Amsterdam vào năm 1654 sau giai đoạn Tòa án dị giáo gây nhiều căng thẳng ở Brazil.

Sinh ra trong một gia đình thượng lưu và có điều kiện, Lazarus có gia sư riêng dạy nhiều môn học từ số học, thần học cho tới tiếng Italy, song thế mạnh của bà sớm bộc lộ trong văn chương. Ngay từ khi mới chỉ là một đứa trẻ, Lazarus đã dành nhiều thời gian để viết thơ và dịch các tác phẩm từ tiếng Pháp và tiếng Đức. Cha mẹ của Lazarus, đặc biệt là ông Moses Lazarus, đã rất khích lệ bà theo đuổi đam mê này.

Năm 1886, khi mới 17 tuổi, Lazarus phát hành cuốn sách đầu tiên gồm 207 trang, bao gồm các tác phẩm do bà tự sáng tác và nhiều bản dịch. Cuốn sách, được cha của Lazarus tài trợ tiền xuất bản, có tiêu đề rất đơn giản và là tác phẩm mà bà dành tặng cha mình.

Một năm sau đó, Lazarus mạnh dạn gửi tới Ralph Waldo Emerson, một tác giả nổi tiếng ở Mỹ khi ấy, bản sao cuốn sách. Hai người sau đó nhanh chóng giữ liên lạc, và mối quan hệ thầy - trò nhanh chóng nở rộ. Emerson dành cho cây bút trẻ nhiều lời khen ngợi, góp ý và cả phê bình về các tác phẩm mà bà sáng tác.

Emma Lazarus và hình ảnh Nữ thần Tự do.

Emma Lazarus và hình ảnh Nữ thần Tự do.

Không lâu sau, các tác phẩm của Emma Lazarus nhận được sự chú ý của công chúng. Bà dần chuyển từ việc tự xuất bản các tác phẩm sang đăng chúng trên các tạp chí văn học phổ biến như Lippincott's và Scribner's.

Năm 1871, Lazarus xuất bản cuốn sách thứ hai có tên "Admetus and Other Poems" (tạm dịch: Admetus và những bài thơ khác). Cuốn sách tri ân Emerson nhanh chóng được dư luận đón nhận. Một bình luận từ tờ Illustrated London News: "Nữ thi sỹ Lazarus xứng đáng được những ý kiến phê bình công tâm nhất tán thưởng với tư cách là một nhà thơ với sức mạnh nội tại hiếm gặp".

Emma Lazarus còn thử sức với các tác phẩm kịch, tiểu thuyết trong khi vẫn tiếp tục công tác biên dịch. Tiểu thuyết duy nhất mà bà viết, "Alide: An Episode in Goethe's Life" (tạm dịch: "Alide: Một chương trong cuộc đời Goethe") được tác giả người Nga Ivan Turgenev ca ngợi hết lời. Ông từng viết cho bà một bức thư có câu: "Một tác giả viết được những tác phẩm như cô đã viết… sớm hay muộn cũng sẽ trở thành một bậc thầy". Tới năm 1882, hơn 50 bài thơ và bản dịch của bà đã xuất hiện trên các ấn phẩm chính thống.

Cha của Emma Lazarus, thương nhân Moses Lazarus, có công việc làm ăn thuận lợi và sớm trở thành một nhân vật có tiếng tăm tại New York. Cùng Vanderbilts và Astors, ông là người đồng sáng lập câu lạc bộ Knickerbocker chuyên dành cho giới thượng lưu. Moses đã làm việc rất chăm chỉ để giúp gia đình Do Thái của mình hòa nhập và có vị thế giữa cộng đồng người Mỹ Cơ đốc giáo giàu có. 

Tuy nhiên, dù lớn lên trong giới thượng lưu Cơ đốc giáo-Anglo ở New York, Emma Lazarus lại luôn cảm thấy được là chính mình khi ở cùng bè bạn. Cuộc sống đủ đầy và giàu có của bà vẫn không thể giúp bà tránh khỏi việc bị những người bài Do Thái kỳ thị gốc gác. Trong nhiều bức thư của các đồng nghiệp nổi tiếng, người ta thấy rằng ngay cả những người bạn thân nhất của Emma cũng thường vô tình dùng cụm từ "bọn Do Thái" sau lưng bà.

Gia đình Lazarus vẫn thường xuyên tham gia những ngày lễ lớn của người Do Thái như Passover và Yom Kippur song Lazarus thừa nhận, "những niềm tin… và hoàn cảnh sống đôi khi khiến tôi khác với mọi người" (ám chỉ cộng đồng Do Thái). Dù vậy, Lazarus vẫn luôn là người trân trọng và không hề che giấu gốc gác của mình.

Gửi gắm qua lời thơ

Năm 1881, báo chí New York náo loạn vì thông tin nói rằng một cuộc xung đột âm ỉ từ lâu đã tràn ly: người Do Thái tại Nga và Đông Âu bị tàn sát trong những cuộc nổi loạn bạo lực, hơn 100.000 gia đình mất nhà cửa vì bị những kẻ cực đoan tấn công và đốt phá. Hàng trăm nghìn người tị nạn Do Thái đang tràn tới Mỹ để tự cứu lấy mình.

Những thông tin này đã khiến cuộc đời Lazarus có một thay đổi lớn. Bà nhận thấy bản thân có một sợi dây liên hệ vô hình với những người tị nạn mới. Cũng giống như gia đình bà cách đây nhiều thế kỷ, những người này, cùng thứ ngôn ngữ và tập quán có thể vẫn quá khác lạ với bà - đang tìm cách chạy trốn khỏi các cuộc đàn áp tôn giáo ở châu Âu.

Năm 1883, bà viết bài thơ "1492", nói lên nỗi niềm về tình trạng phân biệt đối xử từng khiến tổ tiên bà phải rời bỏ châu Âu và Nam Mỹ. Bài thơ có câu: "Bị truy đuổi từ vùng biển này sang vùng biển khác, từ vùng đất này sang vùng đất khác. Phương Tây từ chối, còn phương Đông thì e ngại. Không một nơi nào trên thế giới này đón nhận. Những hải cảng đóng chặt, mọi cánh cổng khép kín".

Trong nhiều tác phẩm, Lazarus đã khéo léo lồng ghép nghệ thuật và các tư tưởng hoạt động xã hội bằng cách viết về những nội dung chỉ trích chủ nghĩa bài Do Thái, bài ngoại và bất bình đẳng. Lazarus sau đó còn làm tình nguyện viên cho Cục Việc làm và Hỗ trợ Xã hội cho người nhập cư Do Thái ở New York, hỗ trợ người tị nạn học tiếng Anh và tìm việc làm cũng như nơi ở. Về sau bà còn tự gây quỹ và từng tới châu Âu để kêu gọi ủng hộ cho quỹ từ thiện này.

Lazarus cũng chú tâm tới các hoạt động bài Do Thái ở New York, và dùng ngòi bút sắc bén để chiến đấu chống lại xu hướng cực đoan này. Hàng loạt bài viết của bà trên tờ Century, được Richard Gilder, một nhà thơ, và cũng là người bạn thân thiết, giúp sức hiệu đính, là những tác phẩm gần như đầu tiên thẳng thắn lên tiếng chỉ trích và chống lại chủ nghĩa bài Do Thái trên mọi phương diện.

 New York Times bình luận rằng các tác phẩm trong cuốn sách xuất bản năm 1882 của bà "Songs of a Semite: The Dance to Death and Other Poems, " (tạm dịch: "Khúc ca tinh hoa: Vũ điệu của cái chết và những bài thơ khác") là những lời thơ "thể hiện rõ sự cảm thông của người tin rằng… khi một chủng tộc phải chịu đựng, thậm chí là suốt nhiều thế kỷ, những sự bất công cùng cực, thì sự chú ý dành cho những cống hiến trong lĩnh vực văn học chắc chắn sẽ khiến người ta phải tôn trọng và thừa nhận các giá trị của cộng đồng đó đúng như những gì mà họ xứng đáng".

"The New Colossus"

Là một trong những nhân vật tiên phong cho phong trào đấu tranh vì người Do Thái tại Mỹ, song Emma Lazarus được biết đến nhiều nhất với tư cách là tác giả bài thơ dưới chân tượng Nữ thần Tự do, một bài thơ nói lên tinh thần và các giá trị phổ quát của biểu tượng này. Nhiều người thậm chí còn ví Emma Lazarus như người đại diện, nguồn cảm hứng của hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng của nước Mỹ.

Cuối những năm 1870, Pháp gửi tặng nước Mỹ món quà là bức tượng Nữ thần Tự do để chào mừng tự do và cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ, một nỗ lực mà người Mỹ đã thành công về mặt lý thuyết trong khi người Pháp vẫn chưa thể chạm tới tại tất cả mọi vùng lãnh thổ. 

Một số người cho rằng bức tượng, được Frédéric Auguste Bartholdi thiết kế, là một trong những nỗ lực của phong trào ủng hộ dân chủ và bài nô lệ tại Pháp nhằm kêu gọi sự ủng hộ đối với những mục tiêu này.

Chính phủ Mỹ chấp nhận món quà, song với một điều kiện là cả 2 nước sẽ chia sẻ chi phí hoàn thành bức tượng. Pháp chịu các chi phí để xây tượng và đưa nó tới Mỹ, trong khi Mỹ chỉ cần lo các công đoạn lắp ráp.

Ralph Waldo Emerson, người sớm phát hiện tài năng của Emma Lazarus.
Ralph Waldo Emerson, người sớm phát hiện tài năng của Emma Lazarus.

Việc gây quỹ được khởi động từ năm 1882. Một năm sau, những người ủng hộ việc đưa bức tượng tới Mỹ đã mở một buổi đấu giá  nghệ thuật để quyên tiền. Thời điểm đó Emma Lazarus đã rất nổi tiếng tại Mỹ. Constance Cary Harrison, một nhà soạn kịch, phụ trách việc kêu gọi các nghệ sỹ tham gia buổi đấu giá, đã đề nghị Lazarus đóng góp một tác phẩm cho sự kiện này. 

Điều khiến Harrison bất ngờ là Lazarus thẳng thừng từ chối lời đề nghị và nói rằng bà không bao giờ viết theo "kiểu bị đặt hàng". Tuy nhiên, Harrison không bỏ cuộc, và tìm cách thuyết phục nữ thi sỹ khi nhắm đến những hoạt động và tư tưởng vì xã hội của bà.

Lazarus quay trở lại tìm Harrison 2 ngày sau đó với một bài thơ hoàn chỉnh với cái tên "The New Colossus" (tạm dịch: "Bức tượng Khổng lồ mới", với nội dung ca ngợi bức tượng Nữ thần Tự do khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh của nữ quyền và bình đẳng. Bài thơ vẫn còn có sức ảnh hưởng lớn tới tận ngày hôm nay.

Không giống như tượng đồng Hy Lạp

Với sải tay chinh phục vươn dài từ nơi này sang nơi khác

Ở nơi đây cửa biển sóng vỗ, dưới ánh hoàng hôn

Người phụ nữ vĩ đại trên tay cầm ngọn đuốc, trói chặt những sấm sét

Mẹ của những kẻ tha hương.

Bàn tay bà nâng cao ngọn đèn dẫn đường, sáng rực lời chào toàn thế giới

Ánh mắt dịu hiền trải khắp hải cảng lộng gió giữa hai thành phố

"Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa, những cổ tích hoa lệ của các ngươi!",

Bà khóc, với đôi môi câm lặng,

"Hãy đến đây đi những người kiệt sức, nghèo khổ

Những người nheo nhóc khao khát hơi thở tự do

Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc.

Hãy đến đây những kẻ vô gia cư, bị dập vùi trong bão tố,

Ta sẽ nâng ngọn đèn bên cạnh cánh cổng vàng!".

Bài thơ lần đầu tiên xuất hiện tại buổi triển lãm gây quỹ năm 1883 và theo Bette Roth Young, người viết tiểu sử của Lazarus, "đó là bài thơ duy nhất được đọc tại lễ khai mạc".

Chiến dịch gây quỹ đã thành công vang dội, thu về khoảng 100.000 USD (tương đương 2 triệu USD ngày nay) chỉ trong vài tháng. Tuy nhiên, bài thơ "The New Colossus" nhanh chóng bị lãng quên sau sự kiện này, và thậm chí là cả khi tác giả của nó, nữ thi sỹ Emma Lazarus qua đời vì ốm bệnh vào tháng 11/1887, khi mới chỉ 38 tuổi.

Mãi đến năm 1901, khi một người bạn thân của Lazarus là Georgina Schuyler tìm thấy bài thơ, tác phẩm đầy ý nghĩa này mới thực sự sống lại. Để tưởng nhớ nữ thi sỹ Lazarus, Schuyler đã tổ chức các hoạt động quảng bá tác phẩm này và đưa nó đến gần hơn với người đọc. Hai năm sau, "The New Colossus" được khắc trên một tấm bảng dưới chân tượng Nữ thần Tự do.

Trên thực tế, Emma Lazarus chưa từng trực tiếp nhìn thấy Nữ thần Tự do khi bà viết "The New Colossus", và có lẽ bà cũng không mấy quan tâm tới mục đích của những người Pháp khi tặng món quà này cho nước Mỹ - một biểu tượng trường tồn của chủ nghĩa cộng hòa và dấu chấm hết cho chế độ nô lệ.

Tuy nhiên, ý nghĩa của bài thơ cùng những gì mà hình ảnh Nữ thần Tự do mang lại về sự bảo vệ và công bằng, chắc chắn cũng đã là một phần không thể phủ nhận trong lịch sử của nước Mỹ.

Thái Hân (tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.