Cựu Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh: Cánh chim thiên di chưa mỏi mệt

Đàm phán Hiệp đinh Paris 1972 vẫn được cho là sự kiện ngoại giao tầm cỡ nhất của Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay. Sự kiện còn mãi với thời gian nhưng không ít người trong đoàn đàm phán ngày đó đã thành người thiên cổ.

Những nhân chứng sống như cựu đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh vô cùng hiếm hoi. Tôi may mắn được nghe hồi ức của ông vào một chiều đông Hà Nội, khi ông - cánh chim thiên di hơn nửa cuộc đời đã cất đôi cánh vào quá khứ.

Cùng sáng tạo bảng phiên hiệu đơn vị quân đội

Tuổi 90, có người sống với hoài niệm, nhưng có người vẫn miệt mài lao động như lo ngày mai chẳng tới. Cựu đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh là một người như vậy. Trong căn phòng nhỏ, một chồng sách báo, một chén trà thơm, một cây ba-toong, quắc thước, tinh anh với đôi chân tập tễnh, ông Huỳnh vẫn miệt mài viết sách, tiếp báo chí hằng ngày.

Trước khi làm ngoại giao, ông Huỳnh có nhiều năm công tác trong môi trường quân đội. Năm 18 tuổi, khi vừa hoàn thành khóa học quân sự do vị tướng lừng danh Nguyễn Sơn đào tạo, ông được kết nạp Đảng. Vừa xong thì đúng dịp toàn quốc kháng chiến.

Ông Nguyễn Khắc Huỳnh khi làm Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên.
Ông Nguyễn Khắc Huỳnh khi làm Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên.

Tháng 11-1946, ông Huỳnh cùng 4 sinh viên thuộc top xuất sắc nhất khóa học được điều về Bộ Tổng Tham mưu, công tác tại Ban nghiên cứu của Phòng Tác chiến do ông Đào Văn Trường phụ trách. Cơ quan đóng tại Định Hóa - Thái Nguyên. Khi thảo luận để ra chương trình công tác năm 1948, ông Nguyễn Khắc Huỳnh đề nghị đưa vào công tác nghiên cứu bản ký hiệu đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo ông Huỳnh, thời điểm đó quân đội ta chưa có bản ký hiệu quân đội thống nhất. Hồi đó, tạm thời dùng cách viết tắt "Tiđo", "Trđo", "Tiđoa"… để chỉ tiểu đội, trung đội, đại đội. Cách viết này không được sử dụng thông dụng vì không thuận tiện, công tác điện báo cũng mất thời gian hơn.

Do đó, ông Nguyễn Khắc Huỳnh đã tìm hiểu các tài liệu về ký hiệu quân đội của Pháp, Nhật, Trung Quốc… và nhận thấy họ dùng một chữ cái để chỉ một cấp đơn vị như: C chỉ đại đội (Compagnie), B chỉ tiểu đoàn (Bataillon), R chỉ trung đoàn (Régiment), D chỉ sư đoàn (Division)… Sau đó, ông đề nghị dùng các con chữ đầu của các vần chữ cái a, b, c, d… để chỉ các đơn vị quân đội.

"Ba đơn vị nhỏ tiểu đội, trung đội, đại đội thì dùng a, b c dễ nhất trí. Nhưng tiểu đoàn thì dùng d hay đ, trung đoàn thì dùng e hay đ, sư đoàn dùng f hay h? Qua thống nhất thì tôi đề nghị tiểu đoàn là d, trung đoàn là e, sư đoàn là f. Lúc đó có ý kiến cho rằng bảng chữ cái tiếng Việt không có f thì không nên dùng, nhưng có ý kiến tranh luận lại là máy đánh chữ có chữ f thì nên dùng. Mặc dù lúc đó quân đội ta chưa có sư đoàn nhưng chắc chắn sẽ được kiện toàn nên ký hiệu này vẫn được đưa vào sử dụng" - ông Huỳnh nói.

Các ký hiệu tên binh chủng, quân chủng thì dùng chữ viết tắt tên của binh chủng và viết hoa cả như bộ binh là "BB", công binh là "CB", pháo binh là "PB", không quân là “KQ”… Ký hiệu chỉ các chức vụ cũng được nhanh chóng hoàn thiện. "t" chỉ cấp trưởng, "f" chỉ cấp phó, "v" chỉ chính trị viên. Như vậy, đại đội trưởng là "ct", trung đoàn phó là "ef", chính ủy sư đoàn là "fv".

Sau khi hoàn thành, mùa thu năm 1948, tướng Hoàng Văn Thái ký ban hành bản ký hiệu đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông Nguyễn Khắc Huỳnh nhận nhiệm vụ đến nhà in Tập san quân sự hướng dẫn khắc và in bản ký hiệu. Bản ký hiệu này nhanh chóng được các đơn vị quân đội hưởng ứng nhiệt liệt, nhiều người gửi thư về khen. Hồi đó quân đội chưa có doanh trại, toàn trú đêm ở nhà dân, anh dẫn đoàn cũng không bao giờ gọi là trung đoàn, tiểu đoàn mà dùng c1, d1. Các đơn vị gọi cho nhau cũng vậy.

Bản ký hiệu dù còn thô sơ nhưng đã đáp ứng công tác cho quân đội trong hàng chục năm trời chiến tranh. Mãi đến năm 1960 mới có sự điều chỉnh, bổ sung lần đầu, tuy vậy, những ký hiệu ông Huỳnh đưa ra vẫn được dùng thông dụng cho đến ngày nay.

Trong quá trình làm, để xin ý kiến tướng Hoàng Văn Thái (Tổng Tham mưu trưởng) rất khó, ông Huỳnh phải trình với thư ký và thư ký trình bày vắn tắt với ông Thái. Ai dè sau đó, ông Thái đã dành một buổi để làm việc với ông Huỳnh về vấn đề này vì đánh giá cao ý tưởng và khen ngợi: "Bản ký hiệu quân đội được đấy, bây giờ ai cũng dùng a, b, c chứ nếu điện đàm mà cứ gọi là trung đoàn, tiểu đoàn… thì rất dài dòng".

"Bàn tròn - bàn vuông"  và những kỉ niệm tại đàm phán Paris

Nhắc đến những kỉ niệm của đời ngoại giao, tay run run, ông Huỳnh lần giở từng tấm ảnh đen trắng ăm ắp ký ức đã theo ông mấy chục năm trời. Đêm mồng 2 Tết Mậu Thân 1968, khi cuộc chiến đang nổ ra, đài còn đang báo tình hình chiến sự thì Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh gọi vài người vào, trong đó có ông Phan Hiền, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, ông Trần Hoàn. Ông Trinh thông báo ngắn gọn: "Chuẩn bị đàm phán" rồi không nói gì thêm.

Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh (hàng đầu, thứ 2 từ trái sang) cùng với những người bạn Mozambique trong thời gian làm Đại sứ Việt Nam tại quốc gia này.
Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh (hàng đầu, thứ 2 từ trái sang) cùng với những người bạn Mozambique trong thời gian làm Đại sứ Việt Nam tại quốc gia này.

Cuộc đàm phán Paris là cuộc đối đầu giữa 2 nền ngoại giao. Một là nền ngoại giao nhà nghề, lâu đời của một siêu cường với chính sách đàm phán trên thế mạnh củ cà rốt đi liền với cây gậy. Một bên là nền ngoại giao khá non trẻ, vừa học vừa làm của nước ta. Thời gian đầu Hiệp định Paris, ông Huỳnh thuộc bộ phận ở trong nước, cùng với ông Nguyễn Cơ Thạch (khi đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) làm công tác tham mưu, góp ý kiến, tổng hợp tình hình quốc tế, phân tích thái độ của các nước cho đoàn đàm phán.

Trong thời gian đàm phán đó, ông Huỳnh đóng vai trò chính trong việc thảo lập trường 10 điểm của Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Bản đó được tất cả những người trong Bộ Ngoại giao như ông Nguyễn Duy Trinh, ông Nguyễn Cơ Thạch cho thông qua và chuyển sang cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.

Sau đó tài liệu này được điện đàm sang Paris cho đoàn đàm phán. Mỗi lần điện đàm chỉ đưa 2 điểm một để bảo đảm bí mật. Trước khi sang Paris thì có lập trường 4 điểm. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng, bây giờ lập trường cơ bản là 4 điểm và 10 điểm, không ai được đàm phán gì ngoài những vấn đề này.

Khi cuộc đàm phán đi vào chiều sâu thì Trung ương cử ông Lê Đức Thọ sang làm cố vấn đặc biệt, sau thì ông Lê Đức Thọ trở thành đàm phán chính với Ngoại trưởng Mỹ Kissingger. Khi ông Lê Đức Thọ sang, cần có thêm 1 chuyên viên để viết lách, chuẩn bị tư liệu thì ông Huỳnh được gọi đi cùng.

"Lúc đó tôi phải nghiên cứu phản ứng và động thái của các quốc gia đối với đàm phán, tổng hợp lại các ý kiến. Đi gặp gỡ các chuyên viên của sứ quán các nước. Cái khó là đoán xem đoàn của Mỹ sẽ nói gì, thái độ ra sao để mà chuẩn bị phương án? Cả tập hồ sơ, chúng tôi chắt lọc ra để đưa cho đoàn đàm phán những tư liệu như ném bom ở đâu, bắt bớ thế nào, phát biểu gì…" - ông Huỳnh lục lại ký ức.

Một trong những điểm ấn tượng nhất của cuộc đàm phán là việc tranh luận từ những thứ tưởng chừng rất nhỏ nhặt, điển hình là bàn đàm phán tròn hay vuông. Phía Mỹ đưa ra rất nhiều kiểu bàn như hình chữ nhật, hình thoi… với ý muốn chỉ thể hiện 2 bên đàm phán. Một bên là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong khi đó, chúng ta đề nghị bàn vuông để thể hiện rõ 4 bên đàm phán. Cuộc tranh luận này kéo dài nhiều tháng trời và phải trải qua tới 10 phiên họp, khi Liên Xô đưa ra sáng kiến chiếc bàn tròn, không phân biệt ranh giới cụ thể giữa 4 đoàn, phía Mỹ mới chịu chấp nhận. Sau cùng đi đến thống nhất là một cái bàn tròn to đường kính 8m, cắt đôi, trải khăn bàn màu xanh, mỗi bên có một vạch phân chia nằm bên ngoài. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một bên, còn phía ta đoàn Mặt trận và đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi thành hai đoàn riêng biệt.

Đó là phần họp công khai, phần họp bí mật thì hẹp hơn. Hai đoàn họp tại lâu đài Kleber, gần Khải Hoàn Môn. Họp bí mật thì hầu hết các địa điểm do ta chọn. Đó là những vùng có người trong Đảng Cộng sản Pháp làm chủ, họ chọn hộ. Jil Jur Yvell là địa điểm bí mật mà 2 bên gặp nhau rất nhiều lần.

Ở đây có nhà 2 tầng. Tầng dưới là đoàn đàm phán, tầng trên các chuyên viên ngồi để nghe, nếu có ý kiến góp ý thì viết vào tờ giấy rồi chuyển cho thành viên đàm phán. Ông Huỳnh thường viết những phát hiện của mình vào giấy và chuyển cho thư ký của ông Lê Đức Thọ theo cách như vậy.

Ông Huỳnh kể, những cuộc họp này báo chí không được vào nhưng họ rất thạo tin, họ vẫn tìm được đến nơi. Tuy nhiên, họ phải đứng ở ngoài hàng rào, bắc ghế, thang đứng nhòm qua hàng rào để xem bên trong đàm phán thế nào. Có ngày họ bắc bằng cả chục cái thang rất cao lên để xem. Họ không nghe thấy gì, chủ yếu là xem các đoàn có bắt tay không, nét mặt thế nào và họ chụp ảnh. Dạo đó, ông Huỳnh thân thiết với một số nhà báo Pháp và họ dò hỏi rất kĩ, rất nhiều nhưng vẫn phải giấu kín và né tránh về nội dung đàm phán.

Ngoại giao và tình bạn

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, ông Nguyễn Khắc Huỳnh giữ chức Đại sứ Việt Nam tại Mozambique - một quốc gia thuộc châu Phi nhưng rất có cảm tình với Việt Nam. Tại đây, ông Huỳnh có mối quan hệ khá thân thiết với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Cơ quan lãnh đạo Mặt trận Frelimo là Armado Emilio Guebuza. Trước khi trở thành Tổng thống, ông Guebuza và Nguyễn Khắc Huỳnh đã có nhiều lần gặp gỡ, say sưa nói chuyện về mọi chủ đề.

Khi ông Huỳnh đã nghỉ hưu, có lần Tổng thống Armado Emilio Guebuza tới thăm Việt Nam, ông Huỳnh vẫn tham gia đón đoàn, hai người ôm nhau thân thiết.

Trong cuộc mít tinh chào mừng, ngài Tổng thống nhấn mạnh: "Tôi rất vui vì hôm nay đón tôi có ngài Đại sứ rất thân thiết với tôi năm xưa". Điều này cũng tương tự với một tổng thống khác của Mozambique khi đến Việt Nam, biết ông Huỳnh tham gia đàm phán Hiệp định Paris thì ngài Tổng thống tỏ ra rất hào hứng, kéo ông Huỳnh lại gần và đề nghị ông Huỳnh kể lại diễn tiến của hiệp định cho mọi người cùng nghe. Những tình tiết đấu tranh ngoại giao được hâm nóng lại, câu chuyện kéo dài tưởng như bất tận…

Tại đất nước này, ông Huỳnh có một người bạn tâm giao, đó là Vụ trưởng Vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao Mozambique. Hai người thường xuyên gặp nhau trò chuyện và hai gia đình cũng nhiều lần gặp gỡ, hỏi thăm nhau. Tuy nhiên, trên chuyến bay về Việt Nam khi kết thúc nhiệm kỳ, ông được tin ngài Tổng thống và người bạn - Vụ trưởng Vụ Lễ tân mất trong một vụ tai nạn máy bay. Mất mát này khiến ông Huỳnh trăn trở mãi và mỗi khi nhắc đến người bạn này, lòng ông trĩu xuống, những kỉ niệm hiện ra rồi vội thành quá vãng.

Sau này, khi đã rời nhiệm sở, ông Huỳnh đi đến nhiều nước trên thế giới, ôn lại những kỉ niệm cũ. Đặc biệt, trong lần sang Mỹ dự hội nghị, ông gặp lại Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara và trò chuyện hết sức thân mật về mọi chủ đề, nhất là cuộc đàm phán Paris. Có lần, ông McNamara mời ông Huỳnh đến nói chuyện tại một trường đại học của Mỹ trước hàng ngàn sinh viên cũng về chủ đề này. Những câu chuyện về cuộc đàm phán, về đất nước và con người Việt Nam, về cuộc chiến tranh, về nghề ngoại giao… nhanh chóng thu hút sự chú ý và tán thưởng cao độ.

Như cánh chim không mỏi, nghỉ hưu, ông Huỳnh vẫn đi đây đi đó dự các hội thảo về chiến tranh, lịch sử và thỉnh giảng tại các trường quân sự, ngoại giao. Ông lao động cần mẫn như con ong trên cánh đồng chữ, cho ra đời nhiều cuốn sách về nghề ngoại giao, nghệ thuật đấu tranh ngoại giao như một cách để ôn lại những kỷ niệm của một thời đầy nhiệt huyết.

Bùi Trí Lâm

Các tin khác

Hồi sinh Sa Huỳnh

Hồi sinh Sa Huỳnh

Từng cây non được trồng xuống dưới bùn lầy ngập mặn, cánh rừng đưng nơi mép biển Sa Huỳnh đang dần sống lại, gọi bầy chim và tôm cá trở về.

Gil Jibli - người phục dựng những gương mặt đã khuất

Gil Jibli - người phục dựng những gương mặt đã khuất

Bị kẻ khủng bố sát hại mà không xác định được danh tính. Bị hành hạ đến chết trong trại tập trung của phát xít Đức. Bị các tay súng Hamas sát hại dã man. Đó là những số phận mà họa sĩ pháp y Gil Jibli phải đối diện trong công việc của mình. Từ ký ức của các nhân chứng, người thân và những hình ảnh ít ỏi còn sót lại, ông từng bước tái hiện diện mạo những người đã khuất, giúp xác định danh tính của họ và lưu giữ ký ức về họ trước sự xóa nhòa của thời gian.

Những "cựu binh" bền bỉ của thời đại hạt nhân

Những "cựu binh" bền bỉ của thời đại hạt nhân

Lần lượt ra đời trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh bắt đầu định hình trật tự an ninh thế giới, Tupolev Tu-95 của Liên Xô và Boeing B-52 của Mỹ cùng được thiết kế cho một bài toán chiến lược là đưa vũ khí hạt nhân tới các mục tiêu liên lục địa. Hơn 70 năm sau, hai "cựu binh" vẫn hiện diện trên bầu trời, liên tục được nâng cấp để đáp ứng yêu cầu mới và duy trì vai trò trong lực lượng hàng không chiến lược.

Lãnh đạo Công an Khu Tây Bắc và các trinh sát xác định tọa độ truy bắt gián điệp biệt kích nhảy dù

Kỳ cuối: Cuộc chiến 10 năm và những chuyện không có trong hồ sơ

Năm 1961, khi bắt đầu mở hai Chuyên án BK63 và PY27, có lẽ không ai nghĩ từ hai chuyên án gốc, đã mở ra hàng chục chuyên án khác. Suốt 10 năm, cuộc chiến âm thầm nhưng vô cùng khó khăn, gian khổ trên các địa bàn rừng núi, với những cán bộ tham gia từ ngày đầu là thời gian không thể nào quên. Còn với lực lượng CAND, thắng lợi của cuộc chiến chống gián điệp biệt kích đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, góp phần tổng kết thành lý luận nghiệp vụ phản gián.

Cây cầu nổi tiếng thế giới được thi công bởi bàn tay của phần đông những người phụ nữ

Cây cầu nổi tiếng thế giới được thi công bởi bàn tay của phần đông những người phụ nữ

Kế hoạch về một cây cầu mới bắc qua sông Thames, giữa Westminster và Blackfriars, Anh đã được nhóm Strand Bridge Company đề xuất. Trước khi Cầu Strand được hoàn thành, một đạo luật của quốc hội Anh đã ra quyết định đổi tên thành cầu Waterloo như là "Một chứng tích ghi lại chiến thắng rực rỡ mà Lực lượng của Nữ hoàng Anh cùng các Lực lượng Đồng minh đã đạt được khi đánh bại quân Pháp".

Ngành công nghiệp Ukraine trước bước ngoặt đen tối

Ngành công nghiệp Ukraine trước bước ngoặt đen tối

Từ một trong những trung tâm công nghiệp lớn của Liên Xô, ngành công nghiệp Ukraine đã trải qua hơn 3 thập niên nhiều biến động. Giờ đây, khi tính đến ngày chiến sự kết thúc, Kiev không chỉ phải tính chuyện dựng lại những nhà máy đã mất, mà còn phải đưa ra quyết định mang tính chiến lược: khôi phục nền công nghiệp cũ hay xây dựng một nền công nghiệp khác.

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

John Joubert - kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ

Tháng 7/1996, John Joubert, 33 tuổi, đã bị tử hình vì giết hại 3 người. Y được mệnh danh là kẻ sát nhân hàng loạt trẻ nhất nước Mỹ - khuynh hướng tàn bạo đầu tiên của y đã bộc lộ từ năm 13 tuổi. Năm 20 tuổi, y đã gây ra ba vụ giết người. 12 năm sau khi bị bắt, y bị xử tử bằng ghế điện. Cái chết đau đớn của y đã trở thành nguyên nhân khiến nhiều tiểu bang của Mỹ bãi bỏ hình thức tử hình bằng ghế điện.

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Voi luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự hiền hòa và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên. Sự nỗ lực bảo tồn của các cấp ngành và người dân suốt nhiều năm đang giúp hồi sinh biểu tượng của một vùng đất nhiều huyền thoại.

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kéo dài suốt 10 năm với rất nhiều công sức chuẩn bị, đầu tư con người, trang bị vũ khí tối tân nhất, tuy nhiên, CIA chỉ nhận được những bản báo cáo giả; chi viện lực lượng, vũ khí theo kế hoạch của an ninh miền Bắc.

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc chặng đường 21 trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thành công đó phải kể đến những đóng góp thầm lặng của CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị tiền thân của Phòng Bảo vệ 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

10 năm chịu đòn tra tấn trong ngục tù, 10 năm chờ đợi một tình yêu, đất nước được giải phóng, họ nên duyên vợ chồng. Đó là câu chuyện về một thế hệ yêu nhau thủy chung trong gian khó. Tình yêu của họ chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc...

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Phòng quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với Phòng An ninh điều tra và Công an các xã (đặc biệt là tuyến biên giới), đồn biên phòng siết chặt quản lý lưu trú và quản lý xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu, phối hợp tuần tra, kiểm soát. Chỉ trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, các đơn vị phối hợp đã kịp thời phát hiện, xử lý hàng trăm đối tượng vi phạm pháp luật, ngăn chặn hàng trăm trường hợp không đủ điều kiện nhập cảnh vào trong nước, bắt giữ hàng chục đối tượng có tiền án giao cho Công an các địa phương xử lý theo pháp luật; khởi tố nhiều băng nhóm tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú trái phép…

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai “trò chơi nghiệp vụ” khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi những con suối reo vang hòa cùng tiếng gió ngàn của xã biên giới Avương (Đà Nẵng), có một “ngọn núi lớn” trong lòng đồng bào Cơ Tu. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Arất Blư. Ở tuổi 88, đôi chân ấy có thể đã chậm, mái đầu đã bạc trắng như sương sớm, nhưng ký ức về một thời hoa lửa và cái tâm sáng của một người Cộng sản vẫn rực cháy như ngọn lửa thiêng giữa nhà Gươl.

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trải qua những trận đánh giữa lòng Sài Gòn, nếm đủ đòn roi tra tấn thảm khốc trong lao tù, ông dường như đã chai sạn trước cái chết. Bản lĩnh của một cựu tù Côn Đảo trở về từ “địa ngục trần gian” giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Trưởng Công an xã những ngày mới giải phóng.

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.