Đại tá Đặng Xuân Khang - Chánh Văn phòng Interpol Việt Nam - đã có cuộc trao đổi với PV Chuyên đề antg về những thách thức mới của hoạt động truy nã quốc tế hiện nay.
PV: Thường thì sau khi phạm tội, tâm lý chung của tất cả các loại tội phạm là bỏ trốn, trốn được càng lâu càng tốt. Nhưng có lẽ không phải đối tượng phạm tội nào cũng đủ tiền bạc để có thể thu xếp cho bản thân một chuyến chạy trốn ra ngoài biên giới quốc gia. Vậy thì đối tượng truy nã là người Việt Nam trốn ra nước ngoài thường là loại đối tượng như thế nào, thưa Đại tá?
Đại tá Đặng Xuân Khang: Một trong những nhiệm vụ của Văn phòng Interpol Việt Nam là triển khai các hoạt động phối hợp thực hiện về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ bao gồm cả công tác phối hợp truy bắt, tiếp nhận và trao trả tội phạm truy nã từ Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại.
Nhiều năm làm công tác này, chúng tôi thấy đối tượng truy nã là người Việt trốn ra nước ngoài thường là phạm tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng mà họ biết chắc rằng nếu bị bắt sẽ bị xử ở mức án cao. Như vụ các phạm nhân trốn khỏi Trại giam Hà Tĩnh. Sau khi trốn trại, chúng đã trốn sang Thái Lan. Chúng ta đã phải phối hợp với Cảnh sát Hoàng gia Thái Lan bên đó truy bắt và đưa về Việt Nam. Từ năm 2004 đến nay, chúng tôi đã lập được danh sách hơn 120 đối tượng bị các đơn vị truy nã và nghi bỏ trốn ra nước ngoài, trong đó đối tượng phạm tội về ma túy chiếm số lượng lớn.
Mới đây, đối tượng Nguyễn Thị Dung, tức Hương “xăm”, buôn bán trái phép các chất ma túy bị Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên tử hình cũng đã bị Cảnh sát Trung Quốc bắt và trao trả cho Việt Nam. Sau khi đường dây buôn bán ma túy bị lộ, Hương “xăm” đã trốn sang Trung Quốc hòng thoát thân.
Đối tượng phạm tội nghiêm trọng về kinh tế bỏ trốn ra nước ngoài ngày càng nhiều. Như vụ truy bắt đối tượng Nguyễn Trung Trực bị Công an Vũng Tàu truy nã về tội buôn lậu. Đối tượng đã bị đưa từ Mỹ về Việt Nam bàn giao cho Công an Vũng Tàu. Hay vụ chúng ta phối hợp với Cảnh sát Macao, bắt giữ đối tượng Dương Thị Thanh Nhàn phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ở Đồng Nai rồi bỏ trốn sang Hồng Công, Macao. Hay vụ Trần Đức Lan tham ô tài sản bị Công an TP Hải Phòng truy nã cũng bỏ trốn sang Mỹ nhiều năm rồi mới bị bắt đưa về Việt Nam xử lý...
PV: Cụ thể chúng ta đã bắt giữ được bao nhiêu đối tượng trốn truy nã ở nước ngoài đưa về Việt Nam để xử lý?
Đại tá Đặng Xuân Khang: Tính từ năm 2004 đến nay, Văn phòng Interpol Việt Nam đã phối hợp với lực lượng cảnh sát nước ngoài bắt giữ được tổng cộng 41 đối tượng truy nã của Việt Nam bỏ trốn ra nước ngoài. Trong số các đối tượng bị bắt giữ này chủ yếu là các đối tượng truy nã của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an Hà Nội, Công an các tỉnh, thành như Hải Phòng, Hà Tĩnh, Vũng Tàu, TP HCM.
| Interpol Quốc tế thành lập từ năm 1923, đến nay có 188 nước thành viên, có chức năng hợp tác chống tội phạm lớn nhất thế giới. Ngày 4/11/1991, được sự đồng ý của Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ Việt Nam nay là Bộ Công an Việt Nam, cho phép Lực lượng Cảnh sát Việt Nam tham gia Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế Interpol. Tại Hội nghị Đại hội đồng Interpol lần thứ 61, tổ chức tại Uruguay, các nước thành viên đã bỏ phiếu tín nhiệm và chấp nhận lực lượng cảnh sát Việt Nam trở thành thành viên thứ 156 của Interpol Quốc tế. |
Chúng tôi cũng thường xuyên phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ rà soát số đối tượng truy nã của Việt Nam nghi bỏ trốn ra nước ngoài để tổ chức các hoạt động phối hợp xác minh truy bắt, lập kế hoạch truy bắt ở nước ngoài. Chúng tôi cũng đã tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục Phòng chống tội phạm và các đơn vị nghiệp vụ liên quan triển khai thực hiện các chiến dịch bắt tội phạm truy nã quốc tế do Tổ chức Interpol phát động. Ví dụ chiến dịch INFRA-RED trong tháng 6 và tháng 7/2010 đã giúp chúng ta phát hiện được một số đối tượng truy nã của Việt Nam đang lẩn trốn tại nước ngoài.
Hoặc trong đợt cao điểm truy bắt và vận động đầu thú, thanh loại đối tượng truy nã do Bộ Công an phát động vừa qua, Văn phòng Interpol Việt Nam đã phối hợp với lực lượng truy nã tội phạm chuyên trách của Bộ Công an các lực lượng nghiệp vụ trong lực lượng Công an đã lên danh sách và đề nghị cảnh sát nước ngoài xác minh nhằm mục đích truy bắt 6 đối tượng; đề nghị Ban Tổng thư ký Interpol ban hành Lệnh truy nã quốc tế với 8 đối tượng và bắt được 5 đối tượng phạm tội ở nước ngoài trốn vào Việt Nam.
Về địa bàn các đối tượng phạm tội ở Việt Nam sau khi gây án thường chọn là các nước láng giềng gần gũi với chúng ta về mặt địa lý hoặc là những nước có đông người Việt Nam sinh sống để lẩn trốn.
PV: Còn các đối tượng phạm tội ở nước ngoài bỏ trốn vào Việt Nam thì địa bàn chúng chọn là các thành phố lớn hay các vùng xa xôi hẻo lánh?
Đại tá Đặng Xuân Khang: Từ năm 2004 đến nay, Văn phòng Interpol Việt Nam đã tiếp nhận yêu cầu truy nã đối với 569 đối tượng phạm tội do cảnh sát nước ngoài yêu cầu truy bắt. Các đối tượng này thường phạm vào các tội nghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tham ô, lạm dụng tình dục trẻ em, tội phạm ma túy.
Nếu như địa bàn vùng sâu vùng xa, vùng hẻo lánh ở Việt Nam thường được các đối tượng truy nã trong nước lựa chọn làm nơi ẩn náu thì ngược lại các đối tượng phạm tội ở nước ngoài khi bỏ trốn vào Việt Nam lại lựa chọn các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM để trú ngụ. Ngoài ra, hai địa bàn nữa cũng thường được các đối tượng này lựa chọn đó là các tỉnh có nhiều người nước ngoài sinh sống hoặc có nhiều mối quan hệ với Việt kiều ở nước ngoài, đặc biệt là các tỉnh phía Nam như: Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Long, Vũng Tàu, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang.
PV: Nhìn kết quả bắt truy nã quốc tế cả hai chiều (đối tượng phạm tội ở Việt Nam bỏ trốn ra nước ngoài và đối tượng phạm tội ở nước ngoài bỏ trốn vào Việt Nam) trong những năm qua cho thấy rất khả quan...
Đại tá Đặng Xuân Khang: Nhưng thách thức đang đặt ra rất lớn khi mà tình hình tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đang diễn biến hết sức phức tạp...
PV: Đại tá có thể nói cụ thể hơn về điều này...
Đại tá Đặng Xuân Khang: Như một quy luật khi thủ đoạn hoạt động tội phạm ngày càng tinh vi thì cùng với đó các thủ đoạn trốn tránh pháp luật trong đó có trốn truy nã cũng trở nên đa dạng hơn, tinh vi hơn.
| Sau 19 năm kể từ khi Cảnh sát Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế Interpol, Văn phòng Interpol Việt Nam và các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm đã ghi dấu ấn bằng nhiều vụ bắt truy nã quốc tế nổi tiếng. Bắt đầu từ số báo sau, Chuyên đề ANTG sẽ chuyển đến bạn đọc loạt phóng sự dài kỳ "Bắt truy nã quốc tế: Lật lại hồ sơ Interpol". |
Đối tượng phạm tội bây giờ biết lợi dụng khoa học công nghệ, lợi dụng các chính sách thông thoáng của ta về xuất nhập cảnh, về phát triển kinh tế du lịch, để câu kết thành các đường dây, tổ chức tội phạm hoạt động xuyên quốc gia hoặc lợi dụng làm địa bàn lẩn trốn. Trước kia khi chúng tôi phối hợp bắt một đối tượng nguyên là chủ một nhà hàng ở Hà Nội trốn truy nã ở nước ngoài, anh ta khai rằng khi bỏ trốn chỉ vơ vội số tiền trong két ở nhà hàng được có 10 triệu đồng. Còn bây giờ, nhiều đối tượng đã chuẩn bị sẵn một số lượng rất lớn tiền bạc để sẵn sàng cho cuộc trốn chạy ra nước ngoài nếu bị cơ quan chức năng phát hiện bằng thủ đoạn mở tài khoản cá nhân ở nước ngoài hoặc "đầu tư" bất động sản ở nước ngoài. Với số lượng tiền bạc lớn, chúng có thể sống "ung dung" mà không cần phải tiếp tục các hoạt động phạm tội để tránh bị lộ.
Cũng do có nhiều tiền bạc mà nếu như ngày xưa các đối tượng truy nã trốn đi để nhằm che giấu tung tích, giấu mình đi cho thật kỹ thì nay với tiềm lực kinh tế mang theo cuộc chạy trốn chúng có thể thay tên đổi họ, thay hình đổi dạng, đội các lốt khác nhau để xuất hiện trở lại một cách công khai.
Một thách thức nữa đặt ra đó là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay thì các đối tượng lẩn trốn không chỉ dừng lại ở một địa bàn, một quốc gia mà chúng có thể bỏ trốn ra nước thứ ba. Thông tin về địa bàn lẩn trốn của đối tượng không cụ thể và liên quan đến nhiều quốc gia đương nhiên công tác xác minh cũng như phối hợp truy bắt trở nên khó khăn hơn; đòi hỏi sự kết nối thông tin phải nhanh hơn, hoàn hảo hơn. Và, tất cả những yêu cầu đó muốn đáp ứng được sẽ phải liên quan đến nhiều yếu tố như hành lang pháp lý, cơ chế phối hợp lực lượng, yếu tố con người, trình độ nghiệp vụ, đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí...
PV: Xin cảm ơn Đại tá về cuộc trao đổi này.