Có một điệp viên như thế: Người ở thành về

Tôi bỗng trở thành người thân thiết với anh trong bối cảnh ngặt nghèo của cuộc chiến. Anh, một điệp viên được Cục nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (Cục 2) Bộ Quốc phòng tuyển chọn, đào tạo và “đánh” vào hoạt động tại Sài Gòn.

Tôi bỗng trở thành người thân thiết với anh trong bối cảnh ngặt nghèo của cuộc chiến. Anh, một điệp viên được Cục nghiên cứu Bộ Tổng tham mưu (Cục 2) Bộ Quốc phòng tuyển chọn, đào tạo và “đánh” vào hoạt động tại Sài Gòn. Còn tôi, con đường trở thành lính của Cục nghiên cứu cũng như anh có sớm hơn mấy năm (cuối 1965) nhưng lại được tăng cường cho Cụm Tình báo chiến lược có bí số B48, Công tác trong bộ phận căn cứ bám trụ tại chiến trường Đông Bắc Sài Gòn từ huyện Châu Thành tới Tân Uyên-Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương. 

Một môi trường công tác khác nhau, địa bàn cách biệt cộng với nguyên tắc “cự ly ngăn cách” của nghề Tình báo, vậy mà gặp gỡ để rồi quen thân, há chẳng phải là điều kỳ lạ!

Thông thường các cụm Tình báo chiến lược thời chiến tranh, mô hình tổ chức có 2 bộ phận: Bộ phận hoạt động trong lòng địch gồm các điệp viên và giao thông viên, gọi tắt là cán bộ nội thành; bộ phận công tác trong căn cứ số lượng đông hơn, tập trung nhiều thành phần: Lãnh đạo cụm, tổ trinh sát địa bàn, tổ cơ yếu điện đài, y tế, cấp dưỡng, bảo vệ… 

Một quy định bất biến, khi xây dựng căn cứ bám trụ dù lớn hay nhỏ, đều phải hình thành 2 khu vực: Cho cán bộ chiến sĩ trong căn cứ (khu A) và khu vực cách ly (Khu B) dành để đón “khách” từ Thành về khi có yêu cầu báo cáo trực tiếp hoặc nhận chỉ đạo trực tiếp của Trung tâm. Người ở khu A không có nhiệm vụ không được tiếp cận khách khu B.

Tại căn cứ rừng Vĩnh Lợi, lán làm việc của tôi gần khu  B, nên mỗi khi có khách về là biết, nhưng cũng chỉ thấy loáng thoáng bóng người, không nghe tiếng nói, vì cách một quãng rừng chồi mấy chục mét. Khách về cứ, thường chỉ ở lại một, nhiều lắm là 2 ngày, đề phòng địch càn sẽ không đảm bảo an toàn. Vậy mà lần ấy, có một khách nam về tới 4 ngày chưa đi.

Tác giả cùng bà Võ Thị Thắng - Tổng cục Du lịch (phía trước - bên trái) tới thăm đoàn cán bộ giao thông bí mật J22 tại Trạm 66 Bộ Quốc phòng năm 1997.
Tác giả cùng bà Võ Thị Thắng - Tổng cục Du lịch (phía trước - bên trái) tới thăm đoàn cán bộ giao thông bí mật J22 tại Trạm 66 Bộ Quốc phòng năm 1997.

Một buổi chiều muộn, tôi đang ngồi uống trà với anh em tổ trinh sát và tổ điện đài thì trinh sát Tư Phòng tới thông báo – “Cụm trưởng kêu anh Ba vô hội ý công việc tại lán cụm trưởng trong khu B”.

Bộ phận căn cứ ngày đó chỉ duy nhất có tôi quê miền Bắc, thi thoảng vẫn được “đặc cách” vào khu B. Ấy là những bữa điệp viên hoặc giao thông viên từ nội thành về vốn là dân Bắc hoặc cán bộ đã từng tập kết trở về mà theo ý đồ của lãnh đạo Cụm là để tôi “bổ túc” tình hình miền Bắc cho họ nhằm giải tỏa những luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch xuyên tạc, bôi lem chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Tôi tới khi Cụm trưởng đang ngồi trầm ngâm trong căn lán nhỏ, với bộ bàn ghế được ghép bằng cây rừng. Cụm trưởng vô đề ngay – “Tôi kêu cậu vô vì có một việc buồn của đơn vị. Một điệp viên từ Hà Nội đánh vô Sài Gòn thuộc biên chế của Cụm ta. Vì có sự cố mà không thể bám trụ trong Thành, phải rút về căn cứ. Đây là một cán bộ kiên trung, được đào tạo cơ bản, sẽ đi vào một lưới điệp báo quan trọng, vậy mà phải đau lòng rời trận địa. Cậu ấy thứ Tư, tên Thủy, chắc hơn cậu mấy tuổi. Thủy đang rất tâm tư, tôi đã làm công tác tư tưởng để cậu ấy yên tâm công tác trong căn cứ, nhưng vẫn cần tới sự hỗ trợ của cậu”. Cụm trưởng đưa cho tôi tập giấy viết tay chừng gần chục trang – “Cậu cầm lấy cái này đêm nay tranh thủ đọc rồi tóm tắt cho tôi một báo cáo ngắn gọn gửi cấp trên. Từ tối mai cậu vô trong này ngủ cùng lán với Thủy. Cứ coi như không biết chuyện gì, chắc rồi Thủy sẽ tâm sự kỹ hơn”.

Đêm hôm ấy, tôi nghiền ngẫm tập giấy Cụm trưởng đưa. Đó là bản tường trình của Thủy tính từ hôm tiếp cận Sài Gòn cho tới ngày âm thần trốn khỏi thành phố.

Hôm sau, cơm chiều xong, tôi đem võng vào khu B, từ xa, tôi đã nhận ra dung mạo chủ lán – cao như người phương tây, da trắng, tóc xoăn, tựa lưng vào cột lán thẫn thờ ngó những đám mây trôi trên bầu trời phía nam rừng chồi xa thẳm, theo hướng ấy là thành phố Sài Gòn. Tôi đánh tiếng trước khi bước vào lán:

- Chào anh Tư! Anh Ba Cụm trưởng biểu tôi vô ngủ cùng lán với anh cho vui. Ở căn cứ thì tôi là cựu binh, còn anh là tân binh, cần gì tôi sẽ hướng dẫn anh.

Khách giật mình quay lại trước màn xã giao tự nhiên của tôi.

- Chào anh!... Vậy anh là…

- Tôi thứ Ba, tên Thái Dương

- Vậy… anh Ba từ ngoài kia vô, quê đâu ta!...

- Chánh hiệu “ta nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”

Khánh nhìn tôi, khẽ cười, nối câu tiếp theo trong bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Quang Dũng - “Em có bao giờ em nhớ thương”.

Cả 2 cùng cười về sự đồng điệu tâm hồn làm không khí trong lán thêm ấm cúng. Khách hồ hởi bắt tay tôi và giới thiệu:

- Tôi là Thủy - Tư Thủy, so với anh, tuổi chiến trường và tuổi ở cứ của tôi đều là tân binh. Tôi từ ngoài ấy vô chiến trường chưa được 2 tuần và về cứ hôm nay mới là ngày thứ tư.

Lời giới thiệu của Tư Thủy khiến tôi sực nhớ tới bức điện từ trung tâm gửi Cụm trưởng từ hơn 2 tuần trước với nội dung tóm tắt: “Thông báo các đồng chí “K2” sẽ bay từ Hà Nội đi Phnom Pênh lúc … giờ… ngày… rồi chuyển phi cơ đi Sài Gòn. Yêu cầu cử người đón. Ám, tín hiệu và địa chỉ cư trú của “K2” như cũ”. Tôi thầm nghĩ chắc tới 99% “K2” là Tư Thủy.

Tôi chủ động pha nước mời khách. Tàn ấm trà cũng là thời gian tôi tranh thủ tâm sự về mình.

Tôi thuộc lớp nghĩa vụ quân sự đợt 3. Năm 1961 vào lính pháo binh đóng quân ở thảo nguyên Châu Mộc tới 4 năm. Cũng vì Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 10 quý mến nên kéo dài thời gian nghĩa vụ tới hơn 1 năm. Đã được qua lớp đào tạo viết báo do Báo Quân đội Nhân dân mở tại Quân khu Tây Bắc. 

Định đi theo nghề báo, nhưng có một sự kiện bất ngờ diễn ra, số là thời điểm đó Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia, văn phòng sứ quán thiếu cán bộ. Văn phòng Trung ương thông báo cho các Tỉnh ủy cử một số đảng viên trẻ tham dự lớp đào tạo của Trung ương để đi công tác nước ngoài. Tôi  may mắn lọt vào danh sách 10 đảng viên thuộc tỉnh Đảng bộ Sơn Tây đi dự khóa học này.

Cũng thời điểm đó, Cục Nghiên cứu (Cục II) Bộ Tổng tham mưu, thực hiện chỉ đạo của Tổng Tư lệnh và được phép của Trung ương, đặc cách tuyển chọn gấp một số cán bộ ở các cơ quan, kể cả các trường của Trung ương quản lý để đào tạo, tăng cường cho các cụm Tình báo chiến lược ở chiến trường miền Nam. Tôi lại may mắn lọt vào số đó. 

Từ trường Kỹ thuật nghiệp vụ Trung ương, tôi vừa dự buổi khai mạc và nghe huấn thị của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm xong, lại tức tốc khăn gói về Hà Nội. 

Tôi được đưa về tại một “nhà mật” ở phố Hàng Bè, với “vai diễn” cán bộ thương vụ chờ đi công tác nước ngoài. Nói tới đây, Tư Thủy ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi bỗng dưng đứng dậy, vội sang ôm trầm lấy tôi, khẽ reo lên – “Cha… thiệt không ngờ, thiệt kỳ lạ… hóa ra Ba Dương đã có thời kỳ là “Công dân cùng phố” với tôi. Câu chuyện nối tiếp, tôi nói tóm tắt quá trình ở Hà Nội và thời gian chuẩn bị đi “B” với giấy tờ đầy đủ cho chuyến vào hoạt động hợp pháp tại Sài Gòn. Tên họ, tuổi tác, quê quán đều thay đổi, bởi tôi được tổ chức cho đội lốt một người lính pháo binh Sư đoàn 7 liên hiệp Pháp. 

Năm 1954 tập kết vào miền Nam, đóng quân tại Trà Vinh. Do yếu tim, được giải ngũ, kèm theo giấy miễn quân dịch về cư ngụ tại Lai Khê- Bến Cát-Bình Dương, với nghề nghiệp Giáo sư bậc Trung học (chế độ Sài Gòn thời đó, ngạch Giáo sư có 2 cấp: Cấp Đại học và bậc Trung học – Cấp III của miền Bắc). Năm 1965 Mỹ ồ ạt đưa quân vào chiến trường miền Nam. 

Quân đội Sài Gòn tăng cường đôn quân, bắt lính nhằm quyết tiêu diệt Việt cộng. Với tôi, giấy tờ hợp pháp đều tăng thêm 7 tuổi so với tuổi thực của mình. Vốn là lính pháo binh, sức khỏe A2, yếu tim, giấy miễn quân dịch họ đâu cần xét tới, cứ cho đốc tờ nhà binh kiểm tra là tiếp tục cầm súng như bỡn. Có lẽ vì thế mà cấp trên đưa tôi về công tác trong căn cứ của cụm.

Ấm trà đã 3 lần chế nước, nhạt thếch. Tôi đùa vui – “Nước nhạt rồi không pha mới nữa hén, anh Tư. Ta lên võng nằm, không nỡ tra tấn cái lưng dài của anh nữa”. Lán xây dựng ngoài cái bàn ăn uống, diện tích còn lại vừa đủ căng một cặp võng song song.

Khi đã nằm yên trên võng, một lúc sau, Tư Thủy quay sang phía tôi – “Ba Dương ngủ chưa đó” – “…” “Chưa! Sợ anh mệt nên đi nằm sớm, chớ ở căn cứ ngủ muộn lắm. Họ nhà vạc mà. Làm việc chủ yếu ban đêm. Ngày tập trung xây dựng hầm hào, lán trại. Anh em bộ phận điện đài có khi một giờ sáng chưa xong việc. Mà nè, anh vô đây chị Tư có đi cùng không?” – “Mình đã có vợ đâu, mới yêu thôi. Một cô cùng trường, xinh lắm, hẹn nhau ngày đất nước hòa bình, thống nhất mới mần đám cưới, cha… hôm chia tay cổ khóc sướt mướt, thiệt tội!...”.

Nằm yên một lúc, giọng Thủy trầm buồn – “Con đường công tác của mình và Ba Dương nhiều điểm giống nhau, duy có hoàn cảnh mình bất hạnh lắm!”. Tôi nhỏm dậy, quay về phía Thủy – “là sao… anh Tư!” – Tôi lại nằm xuống, phập phồng lắng nghe lời tâm sự nghẹn ngào của Thủy về cảnh ngộ của mình.

Anh bắt đầu: Tôi may mắn hơn Ba Dương, là học sinh miền Nam ra Bắc, được Đảng, Nhà nước và bà con miền Bắc chăm lo cho ăn học tới hết Đại học. Được Cục tuyển chọn, xong khóa học nghiệp vụ, được cho về quê đánh giặc ngay, lại vào giữa sào huyệt của địch. Tôi đi đường vòng bằng máy bay – Từ sân bay Gia Lâm – qua Campuchia rồi  về Sài Gòn. Vậy là chỉ sau hơn 6 tiếng đồng hồ đã được gặp má tôi. Bà đã ngoài sáu chục tuổi nhưng còn minh mẫn, duy có sức khỏe là hơi yếu, có lẽ vì thương nhớ tới tôi và anh trai tôi (anh Hai Sinh – tên do tác giả tự đổi, khác với tên trong bản tường trình của Thủy) tập kết ra Bắc, đóng quân tại Thanh Hóa. Hai má con gặp nhau mừng rơi nước mắt. Tư tưởng bà rất cách mạng vì hầu hết người thân bên ngoại đều là dân kháng chiến. Ba tôi mất sớm, má tôi ở vậy nuôi con. Cơ ngơi rộng rãi nhưng bà sống một mình, có sự chăm lo của mấy người con gái. Niềm vui của Thủy được nhân đôi khi má nói nhỏ cho biết – “Anh Hai con nó cũng đã vô Sài Gòn từ trước Tết, vì mắc công chuyện thi thoảng nó mới ghé về thăm má”.

Hai ngày đầu, Thủy “cấm cung” tại gia để nghiên cứu địa bàn Sài Gòn qua tấm bản đồ hành chánh và nghe má bổ túc cho một số tình hình chính trị, kinh tế, xã hội đang diễn ra ở thành phố và chờ sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên thông qua cơ sở bí mật – người sắm vai “phu nhân” đi đón Thủy tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Sang ngày thứ ba thì Hai Sinh về. Hai anh em ôm chầm lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Tiếng rằng cũng ở miền Bắc hơn 10 năm mà chỉ được gặp nhau 2 lần. Lần gần nhất cũng đã 5 năm. Năm 1965 Thủy nhận được tin cả đơn vị của anh Hai đã vô chiến trường. Gặp lại anh giữa Sài Thành hoa lệ quả là điều không tưởng. 

Cái dáng thư sinh của Thủy thật tương phản với ông anh – Kính đen, mũ phớt, áo Montagus màu đỏ, tướng mạo oai phong, bệ vệ ra dáng một tay “anh chị” đất Sài Thành. Bữa cơm đoàn tụ gia đình hôm đó bà má chuẩn bị thật to. Toàn những món khoái khẩu của hai đứa con cưng. Hai Sinh lôi ra một chai Remy Martin, loại rượu mà lần đầu Thủy được thưởng thức. 

Tửu lượng có hạn, uống tới ly thứ hai là mặt Thủy tưng bừng. Hai Sinh rót thêm ly nữa khích lệ “uống đi chớ… làm cái nghề bí mật của tụi mình là phải biết nhậu. Nếu không nó sẽ lòi “chất rừng” ra đó. Bà má xong bữa, xuống bếp dọn dẹp để hai anh em thoải mái hàn huyên. Trước khi đi bà còn nhắc nhở - “Em nó hổng uống được, đừng ép nó nghen Hai!”

Bà má đi rồi, giọng nhừa nhựa, Thủy nghiêng người về phía Hai Sinh – “Mà nè! Anh Hai là lính chiến, đánh nhau tối ngày, vô Sài Gòn khi nào mà tửu lượng khá zậy”. Giọng Hai Sinh ngó bộ còn nhựa hơn – “Đánh… đánh mấy trận quyết chiến, chiến công nổi… nổi như cồn. 

Cấp trên biết anh Hai là dân… dân Sài Gòn chánh hiệu liền kêu về hậu cứ, lo giấy tờ hợp pháp vô ém trong thành lo mua sắm khí tài, thuốc… thuốc men cho đơn vị. Đánh nhau với tụi “mẻo” thương vong tùm lum. Nhiều đứa chết vì thiếu thuốc. Anh vô lâu rồi nhưng không cho bà già hay, đợi yên nơi ấm chỗ nên tết vừa rồi mới về thăm má. Vậy còn chú em, hoạt động cánh nào zậy”.

Thủy nhướng cặp mắt lơ mơ sương khói về phía Hai Sinh “Thằng… thằng em này hổng có cánh chi hết. Em là thương gia mừa… thương gia Hồng… Hồng Kông đó” – “xạo vừa thôi thằng nhóc! Ngó bộ bay là thương gia “Trung cộng” thì có, chớ Hồng Kông là thuộc địa của Anh quốc cớ sao lại mướn “Việt cộng” mần cho nó” – “Ủa!” thằng em nói thiệt zậy mà anh Hai hổng tin hả”, Thủy lại nghiêng người về phía anh, hạ thấp giọng đủ cho ông anh nghe – “Hồi du học, em ở cùng với một thằng người Anh gốc Hoa. Cha nó là một ông chủ cỡ bự ở Hồng Kông. Mãn khóa, em bùng theo nó về Hồng Kông. Cha nó mừng hết sẩy vì vớ được em, vì hãng đang cần một người gốc Gài Gòn làm đại diện”. 

Hai Sinh há hốc miệng, ngó thằng em như ngó một người từ hành tinh khác rớt xuống. Rồi Hai Sinh cũng nghiêng người, ghé sát tai em thì thầm – “Chết cha rồi! Vậy là bay trốn ở lại nước ngoài hả? Mà thiệt hôn? Vậy là phải đề phòng, coi chừng “vi ci” (Việt Cộng) không tha cho bay đâu”. Mặt Thủy đỏ nhừ, ngọng nghịu mấy câu rồi chân nam đá chân chiêu nằm xuống đi văng phòng khách khiến Hai Sinh phải dìu lên phòng ngủ, làm một giấc say...

(Còn tiếp)

Hồi ức chiến trường của Thiếu tướng Khổng Minh Dụ

Các tin khác

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Mùa xuân năm 1873, một nhóm người dân ở hạt Labette, Kansas, kéo đến khu đất bỏ hoang của gia đình Bender, mang theo cuốc, xẻng và những dự cảm chẳng lành. Họ xới tung mảnh vườn táo phía sau căn nhà gỗ bỏ hoang, nơi gia đình Bender từng mở quán trọ ven đường, đón khách vào ăn uống, nghỉ ngơi rồi biến mất.

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng an ninh, dù mới thành lập, nhưng đã liên tiếp lập nhiều chiến công. Không chỉ trấn áp, triệt phá, xóa sổ hàng chục ổ nhóm, băng đảng, tổ chức câu kết với thực dân Pháp hoạt động chống phá cách mạng, lực lượng An ninh nói chung và lực lượng phản gián nói riêng đã tương kế tựu kế, sử dụng điệp viên do Pháp huấn luyện để đánh lại chính tổ chức của chúng.

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Như bài trước chúng tôi đã đề cập, lợi dụng tình hình cách mạng mới thành lập còn non trẻ, bọn phản cách mạng trong nước đua nhau ngóc đầu dậy chống phá chính quyền. Hàng chục tổ chức và đảng phái phản động vừa có thực lực, vừa được các đội quân xâm lược nuôi dưỡng, chỉ đạo, âm mưu cướp chính quyền, trong đó phải kể đến các cá nhân, tổ chức làm việc cho địch nhưng đã tìm cách chui vào nội bộ của ta để hoạt động gián điệp.

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu ngày 12/7/1946 là chiến công xuất sắc, minh chứng tiêu biểu nhất về những đóng góp của lực lượng An ninh trong những thời khắc lịch sử giành và giữ chính quyền non trẻ của dân tộc, là mốc son chói lọi thể hiện vai trò hết sức to lớn của lực lượng An ninh nhân dân.

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Huyền thoại về các nữ chiến binh Amazon dũng mãnh đã trở thành một phần của văn hóa thế giới từ thời cổ đại. Những câu chuyện này không ngừng kích thích trí tưởng tượng của các nhà nghiên cứu và giới nghệ sĩ, là tâm điểm của các cuộc tranh luận học thuật. Tuy nhiên, ẩn sau các truyền thuyết nổi tiếng là một trang sử hoàn toàn có thật. Đó là đội nữ cận vệ đã hàng thế kỷ bảo vệ các vị vua Xiêm La - tiền thân của Thái Lan ngày nay.

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Trong số những sự cố tên lửa tai hại vì sơ suất của con người trong lịch sử khí tài của nhân loại, có sự cố vũ khí hạt nhân ở Damascus năm 1980. Rất may, chưa gây nổ đầu đạn, nếu không sẽ là “thảm họa Chernobyl nước Mỹ”.

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.