Chí trai xông pha thời hoa lửa
Trong căn nhà cấp bốn ở nhờ người anh cùng cha khác mẹ phía cuối hẻm 1172 đường 30/4 phường 11 TP Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu), người đàn ông bại liệt nằm trên chiếc giường cũ kỹ, những tiếng thở phều phào đầy khổ hạnh. Khẩu phần bữa tối của anh là cơm nát trộn lẫn rau xào mềm. Từ ngày bị thêm bệnh lao não, anh nằm hẳn trên giường, không ngồi trên xe lăn được nữa. "Người bạn" thân thiết nhất của anh là cái ti vi mỗi khi vợ quang gánh đi lượm ve chai.
Cố ngóc đầu dậy khi biết có khách tới nhà hỏi thăm, niềm tự hào của người cựu thanh niên xung phong tràn về trong ký ức. "Năm 1979, tôi tình nguyện vào thanh niên xung phong lên biên giới phía Bắc canh đất, trồng rừng. Ngày đó đi chiến dịch cảm thấy hăng hái hãnh diện lắm. Bây giờ tàn phế rồi, vẫn nhớ ngày cùng đồng đội ăn lá tàu bay rừng chẳng thể nào quên".
Đầu năm 1979, khi cuộc chiến biên giới phía Bắc nổ ra, theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, Nguyễn Văn Uy xung phong lên đường. Hành trang của chàng thanh niên nghèo phố thị là lý tưởng: "Đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần". Chưa thỏa chí trai xông pha thời hoa lửa, sau ba năm "giữ đất trồng rừng" trở về địa phương, Uy lại tiếp tục viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ vào Trung đoàn 234 thuộc Quân đoàn 3 đóng ở Thái Nguyên.
Một lần, anh cùng 4 đồng đội dựng nhà cho bộ đội thì bị tai nạn. Toàn bộ khối gỗ, ngói trên mái đổ ập xuống đầu khiến anh ngất tại chỗ. Đồng đội đưa anh vào viện cấp cứu. Qua chẩn đoán ban đầu, anh bị chấn thương não, liệt hai chi dưới. Từ năm 1981-1985, anh Uy điều trị ở các bệnh viện quân đội. Năm 1986, anh được xuất ngũ trở về địa phương với thương tật mất vĩnh viễn 61% sức khỏe.
![]() |
| Đêm nào chị Biển cũng thức bóp chân cho người chồng bại liệt. |
Mang trên người thương tật suốt đời, có những lúc anh Uy nản lòng. Sống thế nào đây? Tương lai mình sẽ ra sao khi cả đời gắn với xe lăn? "Lúc đó, tôi cảm thấy như người đã chết. Trước mắt là tương lai mù mịt. Nói thật, tôi đã nghĩ đến cái chết. Khi gặp được nhà tôi bây giờ, tôi cũng không nghĩ bà ấy lại lấy tôi.
Chính trái tim nhân hậu của bà ấy đã sưởi ấm trái tim tôi, thức tỉnh tôi cần phải sống để chiến đấu với bệnh tật, giành giật sự sống cho mình.Tôi không ngờ rằng, chiếc xe lăn kia đã gắn với tôi cả cuộc đời sau ngày rời quân ngũ. Bây giờ thì xe lăn cũng không ngồi được nữa. Một ngày nào đó, tôi chẳng ngồi, nằm được nữa". Nhìn chiếc xe lăn cũ nát, anh Uy nói mà nước mắt lưng tròng.
Chuyện tình cổ tích
Dưới ánh đèn điện không đủ sáng, chị Hoàng Thị Biển (52 tuổi) ngồi chăm chỉ bóp chân cho chồng. 29 năm qua, chị vẫn làm công việc này bằng tất cả tình yêu thương. Nước mắt lặng lẽ rơi, chị không kể về những ngày khó nhọc nâng đỡ vệ sinh, tắm rửa cho chồng, mà lại nói về hạnh phúc nhỏ nhoi của mình.
Năm 1986, chị đem lòng yêu thương người lính bị bại liệt hai chân từ biên giới phía Bắc trở về. Mặc cho bố mẹ can ngăn, bạn bè cản trở, nhưng trái tim chị đã rung động trước đôi mắt cương nghị của người lính. Dẫu vẫn biết bao khó khăn ở phía trước, dẫu chị hiểu sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi gian khổ, nhưng trái tim mách bảo chị đã thuộc về anh.
![]() |
| Chị Biển xúc động kể về những kỷ niệm cùng anh chiến đấu với bệnh tật. |
Ngày đám cưới, đông đủ bạn bè đến chúc mừng. Nhìn cô dâu hạnh phúc đẩy chồng ngồi trên xe lăn, nhiều người cảm động rơi nước mắt. Họ khâm phục tình yêu chị dành cho anh, nhưng không ít người nhìn chị với ánh mắt ái ngại xót xa.
Có người bạo miệng: "Con Biển đẹp đẽ mà lấy thằng què, khác gì đôi đũa lệch". Ngày vui nhất của cuộc đời cũng là ngày chị Biển ngậm ngùi nước mắt. Không phải chị khóc vì bạn bè chê chị lấy chồng què, mà khóc vì tình yêu sâu đậm anh dành cho chị. "Tình yêu là phép nhiệm màu, tất cả khó khăn sẽ vượt qua". Nghĩ vậy, chị lẳng lặng đi tìm hạnh phúc cho mình.
Bắt đầu một cuộc sống mới của "đôi đũa lệnh", tổ ấm của Uy, Biển là căn nhà cấp bốn ở giữa cánh đồng của người anh chồng cùng cha khác mẹ cho mượn tạm. Tuy không đứng được, nhưng anh vẫn có thể ngồi trên xe lăn nhặt cho vợ bó rau, quét cái nhà, phơi quần áo. Còn chị là trụ cột chính của gia đình về kinh tế và chỗ dựa tinh thần vững chắc để anh vượt qua bệnh tật. Khó khăn không ngăn cản được tình yêu của họ, và hạnh phúc nở hoa khi vợ chồng sinh con trai đầu lòng. Ba năm sau lại có thêm một nàng công chúa. Hạnh phúc đong đầy trong căn nhà nhỏ.
![]() |
| Gia tài của người cựu thanh niên xung phong còn lại là tấm bằng danh dự với tám chữ vàng. |
Theo chế độ thương tật của Nhà nước năm 1987, anh Uy được hưởng 38 ngàn đồng và 13 kg gạo/ tháng. Với số tiền, gạo ấy, chỉ nội ăn còn chưa đủ lấy gì mua sữa cho con, trong khi đó bệnh tật của anh Uy ngày càng trầm trọng. Không chịu cảnh con đói cơm, thất học, chị Biển lao vào công việc mưu sinh.
Ban ngày để con ở nhà cho chồng giữ, còn mình đi gánh nước thuê, lượm ve chai kiếm tiền đong gạo. Có hôm đi gánh nước thuê về đến nhà, chị thấy chồng nằm lăn dưới đất, hai đứa con nhìn bố khóc nghẹn. Hỏi mới biết anh Uy với ly nước cho con uống, chẳng may bị té xuống đất, hai đứa nhỏ không sao đỡ bố lên xe lăn được đành khóc chờ mẹ về. Chị vội bế chồng lên xe lăn, dỗ hai con nín rồi lo bữa tối cho cả gia đình.
Năm 2004, anh Uy phát thêm bệnh lao não không ngồi xe lăn được phải nằm một chỗ. Gánh nặng chăm sóc chồng đè nặng lên đôi vai chị. Nếu trước đây chị bế chồng lên xe lăn, rồi anh tự lăn xe, tự ăn, tự uống thì nay chị phải làm tất cả từ thay quần áo, tắm rửa, đút cho anh ăn. Cực nhất là mỗi khi anh Uy đi vệ sinh. Dẫu nhọc nhằn nhưng chưa bao giờ chị Biển than phiền.
"Gặp hoàn cảnh như tôi ai cũng làm vậy thôi. Việc làm xuất phát từ tình yêu, tình người thì dù bẩn, khổ, khó mấy cũng làm được, tôi chẳng ngại gì cả", chị Biển cho biết. Nghe vợ nói chuyện vệ sinh của mình, anh Uy ngẩng đầu dậy phân trần: "Bây giờ tôi không tự đi cầu được, phải móc. Đi tiểu cũng không kiểm soát được. Do nằm lâu một chỗ, các bộ phận gan, thận hư hỏng cả rồi".
Tôi hỏi, chị có ân hận vì lấy một người bại liệt? Chị Biển nhìn chồng ứa hai hàng nước mắt: "Thiệt thòi thì có nhưng ân hận thì không. Tôi là con út, trước gia đình cũng khá giả. Em trai đi lái tàu biển, anh trai là họa sĩ. Thời con gái cũng nhiều người dạm hỏi nhưng tôi chỉ thương yêu anh Uy. Thấy anh bại liệt, cả nhà không ai đồng ý, nhất là mẹ tôi. Nhưng tôi thương thì lấy, sướng khổ mình chịu. Đâu phải nhà cao cửa rộng mới có hạnh phúc".
Trên chiếc giường cũ kỹ kê giữa nhà, anh Uy nằm liệt như ngọn đèn trước gió. Do nằm lâu không cử động, bụng anh ngày một trướng to, hai chân phù nề tê nhức do máu không lưu thông. Đêm nào chị Biển cũng bóp chân cho chồng, rồi nằm cạnh thủ thỉ động viên.
Chị kể chuyện ngày anh mới từ đơn vị trở về mặc bộ quân phục màu cỏ úa ngồi trên xe lăn đã làm chị xúc động ứa nước mắt, chuyện gia đình chị không ai đồng ý cho chị lấy anh, rồi chuyện ngày cưới bị nhiều người chê là "đội đũa lệch", chuyện sinh con và chuyện tương lai... Chính những câu chuyện quá khứ đầy ắp kỷ niệm đẹp đẽ ấy đã xoa dịu những cơn đau buốt từ gan ruột mà anh Uy quặn mình chịu đựng suốt 29 năm qua.
Ước mơ có một mái nhà
Xét hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của anh Uy, UBND TP Vũng Tàu ra công văn giao cho UBND phường 5 bố trí một căn nhà cho anh Nguyễn Văn Uy. Thực hiện công văn này, ngày 18/9/2012, UBND phường 5 đã ra Quyết định số 312/QĐ-UBND, quyết định "Về việc tạm giao căn nhà số D9 thuộc Khu nhà tạm cư khu phố 5, phường 5, TP Vũng Tàu cho ông Nguyễn Văn Uy".
Trong mục thứ ba, thứ tư, thứ năm Điều 2 của quyết định này ghi rõ: "Không được chuyển quyền sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào cho người khác hoặc cho thuê. Thời gian cư trú từ ngày 19/9/2012 đến hết 31/12/2012. Khi Nhà nước thu hồi thì phải bàn giao ngay và không được đền bù, không được hưởng các hỗ trợ khác". Như vậy căn nhà mà anh Uy được cấp chỉ là phường cho tạm trú.
Do căn nhà ở cạnh cảng Bến Đá, mùi cá thối bốc lên, ô nhiễm, người bệnh như anh không chịu được nên vợ chồng vẫn phải ở nhờ nhà của người anh cùng cha khác mẹ. Đứa con gái lấy chồng ở Sài Gòn, đỡ đi một nỗi lo, còn thằng con trai vẫn lông bông nay đây mai đó, chỉ kiếm đủ tiền nuôi thân. Ngày xưa và bây giờ vẫn thế, hai vợ chồng tự bấu víu vào nhau để sống.
Chị Biển nhìn chồng rồi lại nhìn chúng tôi tìm niềm an ủi: "Một này nào đó, anh ấy không còn nữa, họ thu nhà, lúc đó mẹ con tôi không biết nương tựa vào đâu".


