Ba giờ chiều, mồng một tết năm ấy (1968), từ các cánh rừng nam Quảng Trị, lực lượng quân đội và an ninh được lệnh bí mật tiến về cố đô Huế. Chập tối, ra khỏi cửa rừng, các đoàn quân Giải phóng lặng lẽ đi trong màn đêm, trong mưa bụi, lần lượt vượt qua các vành đai phòng thủ của địch. Ông được Tư lệnh mặt trận Huế phân công chỉ huy một mũi tấn công vào khu vực nam sông Hương, nơi đó có các cứ điểm trọng yếu của địch như cơ quan CIA, tòa đại diện chính phủ Bắc cao nguyên Trung phần, tòa tỉnh trưởng, nhà lao Thừa Phủ...
Trong mũi tấn công này, cùng với bộ đội Tiểu đoàn 815, còn có 8 cán bộ công an khu và một tiểu đội trinh sát vũ trang. Trước khi xuất kích, cấp trên phổ biến là cố gắng đảm bảo nguyên tắc bí mật đến tận giờ G, tránh đụng độ với các đơn vị nhỏ của địch dọc đường hành quân. Nhưng một tình huống bất ngờ đã xảy ra.
Gần sáng, khi đơn vị của ông tiến gần đến Thiên An thì gặp một toán thám báo của địch, Nếu tránh đụng độ với toán thám báo thì phải chờ tại nơi mật phục và như thế không thể kịp giờ có mặt tại chùa Từ Đàm - địa điểm tập kết. Vậy là ông quyết định phải mau chóng bao vây tiêu diệt gọn bọn thám báo. Trong khi đơn vị của ông đang đánh nhau với toán thám báo thì tại các mục tiêu quan trọng ở thành phố như Phú Bài, Tam Thai, đơn vị bạn đã được lệnh tấn công. Pháo đạn rung trời chuyển đất. Nửa giờ sau đoàn quân của ông cũng có mặt ở Từ Đàm. Đồng chí Hải Thanh đã chờ ở đây để dẫn đường cho cánh quân của ông tiến vào thành phố.
Theo chân Hải Thanh, đoàn quân xuống dốc Bến Ngự. Bọn cảnh sát dã chiến ở nam Bến Ngự phát hiện ra họ và nã đạn như mưa. Đồng chí Hải Thanh đi đầu đã anh dũng ngã xuống. Ông chỉ huy anh em dập tắt bằng được ổ hỏa lực của địch, tiêu diệt bọn cảnh sát dã chiến rồi tiến về chợ vận động bà con lao động đang có mặt tại đây giúp đỡ quân Giải phóng tố giác bọn ác ôn, bọn tay sai có nhiều nợ máu với cách mạng. Ngay lập tức, một số bà con chỉ cho ông địa chỉ nhà tên phó tỉnh trưởng Trần Đình Thương.
Một đơn vị của ông bao vây nhà Thương kêu gọi hắn ra đầu hàng để hưởng lượng khoan hồng của quân Giải phóng. Thay vì câu trả lời, Thương đã ném lựu đạn xuống. Anh em buộc phải nổ súng tiêu diệt. Đến trưa mồng hai tết, mũi tấn công do ông chỉ huy đã chiếm được một số vị trí ở khu vực nam sông Hương. Đánh chiếm đến đâu, cán bộ an ninh có nhiệm vụ thu gom tài liệu của địch, đóng dấu mật đưa về nơi đặt trụ sở chỉ huy (số nhà 3, phố Lê Lợi hiện nay).
Những tài liệu này được chuyển ra căn cứ đã giúp rất nhiều cho công tác an ninh. Suốt ngày mồng hai tết, đông đảo người dân cố đô Huế hưởng ứng lời kêu gọi của quân Giải phóng. Một số gia đình đã đem vật dụng ra đường phố làm vật cản. Một số gia đình mở cửa mời quân Giải phóng vào nhà. Một số chủ động rủ nhau đi vận động bà con xung quanh ủng hộ cách mạng hoặc lo đồ ăn thức uống cho "người đằng mình" ăn tết.
Đêm ấy, tại ngôi nhà vốn là sở Chính phủ Bắc cao nguyên Trung phần của bọn ngụy mà quân Giải phóng vừa đánh chiếm được, ông đã trải qua một đêm đầy tâm trạng. Đó là tâm trạng của người con xứ Huế xa quê lần đầu trở lại.
... Sinh ra và lớn lên ở phường Phú Lộc của cố đô Huế, nhưng thời thanh niên sôi nổi của ông lại gắn với thành phố biển Nha Trang, nơi ông tham gia hướng đạo sinh cùng thời với các cụ Tạ Quang Bửu và Hoàng Đạo Thúy. Hoạt động và trưởng thành từ phong trào thanh niên yêu nước, đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông đã trở thành ủy viên Ủy ban Kháng chiến Khánh Hòa và giữ chức Cảnh sát trưởng.
Đầu năm 1946, ông được cấp trên điều về Huế làm Trưởng phòng Cảnh sát Công an Trung Bộ. Mấy tháng sau đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh khi ấy là Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ gọi ông lên trao cho nhiệm vụ mới: phụ trách công tác dân vận đồng thời xây dựng cơ sở điệp báo chuẩn bị lực lượng bí mật cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Cũng từ ấy ông xa Huế.
Gần 22 năm trở lại thành phố quê hương, cha mẹ không còn, anh em, người
Suốt đêm trằn trọc. Gần sáng, vừa ngủ thiếp đi thì anh em gọi dậy báo tin: có quần chúng đến tố giác nơi ẩn nấp của một số tên đầu sỏ của chính quyền ngụy. Vậy là công việc một ngày mới của ông bắt đầu bằng việc chỉ huy những tổ trinh sát lần lượt bắt một số nhân vật chóp bu trong chính quyền ngụy ở vùng đất này, như Nguyễn Văn Đại, đại diện chính phủ Bắc cao nguyên Trung Phần, Hồ Thúc Tứ, ủy viên trung ương Quốc dân đảng, Bửu Lộc phó tỉnh trưởng phụ trách an ninh nội địa, Trần Điền, ủy viên trung ương Đại Việt...
Ngày hôm sau, lịch dương là ngày 3/2, cán bộ, chiến sĩ cả đơn vị đều náo nức muốn lập công chào mừng Ngày thành lập Đảng. Buổi sáng, nhờ quần chúng giúp đỡ, ông đã chỉ huy một phân đội lên đường Lam Sơn bắt được một số nhân viên CIA. Buổi chiều ông đã có cuộc nói chuyện với 3 vị tu sĩ người Pháp. Khi biết họ chỉ là những người hoạt động tôn giáo thuần túy, ông đã giao nhiệm vụ cho anh em trinh sát đưa họ trở lại dòng Cứu thế và khuyên họ không nên ra phố vào những ngày đang xảy ra chiến sự. Còn đêm hôm đó, ông và anh em chỉ huy các đơn vị trực thuộc đã thảo luận rất kỹ các phương án tác chiến giải phóng nhà lao Thừa Phủ vào hôm sau. --PageBreak--
Trước đó, vào đêm mồng ba tết, đơn vị của ông đã tập trung hỏa lực, có một tiểu đội đặc công làm xung kích để tấn công mục tiêu này. Nhưng các đợt tấn công của quân ta đều bị bọn địch chốt giữ ở đây đánh bật ra. Để giải phóng nhà lao Thừa Phủ nơi có khoảng 2.300 tù nhân mà hầu hết là tù chính trị, bộ đội, du kích của ta đang bị bọn Mỹ - ngụy giam giữ, không chỉ có quyết tâm mà cần phải có cách đánh phù hợp. Cuối cùng cách đánh được thông qua là: Một tổ cảm tử sẽ dùng dây leo tường rào vào bên trong đánh ra, các phân đội tấn công từ bên ngoài vào đồng thời với việc kêu gọi hơn 2.000 tù nhân nơi đây nổi dậy tự giải phóng.
Theo cách đánh ấy, rạng sáng mồng năm tết, đơn vị của ông phối hợp với Tiểu đoàn 815 đã giải phóng được nhà lao Thừa Phủ.Tuy nhiên, khi mệnh lệnh tấn công sắp ban ra thì xuất hiện tình huống bất ngờ khiến tổ cảm tử tránh được tổn thất. Một người hàng binh từ nhà lao Thừa Phủ trốn ra theo đường cống ngầm nhận lời dẫn đường cho 3 cảm tử quân đột nhập vào phía trong. Chừng 3 giờ rưỡi sáng, tổ cảm tử đã mở được cửa nhà lao Thừa Phủ và chỉ 30 phút sau đó, các đội quân của ta đã lần lượt đưa toàn bộ những người bị Mỹ - ngụy giam giữ ở nơi đây tập kết an toàn. Trong số gần 2.300 người vừa thoát khỏi gông xiềng, ông đã lựa chọn ra 500 thanh niên vốn là bộ đội, du kích, sinh viên, thanh niên yêu nước có sức khỏe bổ sung cho các đơn vị chiến đấu.
Những ngày tiếp theo, cùng với việc ổn định khu vực vừa được giải phóng, ông và anh em an ninh đã chủ động mở một lớp huấn luyện công an xã, phường. Tuy nhiên, biết tình hình trước mắt sẽ còn rất khó khăn, tại lớp học này ông đã nêu những vấn đề về công tác bảo mật, cài cắm lực lượng trong trường hợp quân chủ lực phải rút khỏi thành phố...
Đúng như vậy, mấy ngày sau địch giành lại thế chủ động phản kích dữ dội và lần lượt chiếm lại những vị trí quan trọng của thành phố Huế. Để bảo toàn lực lượng cho cuộc chiến đấu lâu dài, Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định rút toàn bộ quân chủ lực ra khỏi thành phố Huế. Mũi tấn công do ông chỉ huy gồm vài trăm tay súng của Tiểu đoàn 815 phối hợp với lực lượng tự vệ mới thành lập vừa đánh vừa rút dần ra Thủy Xuân đồng thời hỗ trợ cho một phân đội chuyển thương binh, tù binh và hàng tấn tài liệu thu được của địch về vùng căn cứ.
Kẻ địch huy động thêm máy bay ném bom tàn phá Thủy Xuân và những vùng ven có bóng dáng của quân giải phóng. Mũi tấn công của ông tiếp tục cắt rừng vượt núi về miền rừng núi phía tây. Đó là đêm 24 rạng ngày 25 tháng Giêng mùa Xuân Mậu Thân lịch sử. Và cũng từ sau cái đêm bỏ lại thành phố thân thương ngút trời bom đạn rút về nơi rừng sâu núi thẳm ấy, ông cùng đồng đội phải trải qua những ngày đói cơm, đói muối triền miên, gian khổ tột cùng. Con đường tiếp tế lương thực từ đồng bằng lên căn cứ đã bị cắt đứt. Hàng vạn cán bộ chiến sĩ phải đào củ mài, bẫy thú, hái rau rừng làm thức ăn để sống qua ngày. Đã thế, địch còn cho máy bay ném bom và rải chất độc hóa học xuống các cánh rừng phía tây thành phố hòng triệt đường sống của quân ta... Trước tình hình ấy, cơ quan Khu ủy phải rút dần ra phía bắc và cuối cùng trụ lại ở Hướng Hóa, Quảng Trị.
Ít ngày sau, từ Khu ủy, ông được lệnh trở lại Huế tiếp tục nhiệm vụ xây dựng cơ sở kháng chiến. Địa chỉ đầu tiên mà ông "cắm" lại là vùng Truồi thuộc huyện Phú Lộc. Đó là những ngày mà từ 4 giờ sáng ông phải xuống sống ở dưới những căn hầm chật chội chờ đến 9, 10 giờ đêm mới được phép lên mặt đất móc nối với cơ sở bí mật... Suốt cả tháng nằm hầm với cái nóng như nung của mùa hè, người ông gầy rộc đi. Nhiều lần ông đã ngất xỉu, khi tỉnh lại, lấy ngón tay bấu vào da thịt, thấy đau, mới biết mình còn sống...
Nhưng chính những ngày tháng gian khổ ấy ông càng thấu hiểu tấm lòng của nhân dân đối với cách mạng. Bà con không chỉ nuôi nấng, che chở, mà có người còn sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ ông. Đến bây giờ ông vẫn còn nhớ như in câu chuyện xảy ra ở nhà ông Sa, một cơ sở cách mạng ở thôn Dưỡng Mong B. Hôm ấy trời mưa to, ngỡ giặc không đi càn, ông Sa ra hầm gọi ông và anh Thi (người cùng hoạt động với ông) lên ăn cơm.
Nào ngờ, vừa ngồi vào mâm thì lũ giặc ập đến ngõ. Ông và anh Thi kịp rút xuống hầm nhưng trên mâm cơm vẫn còn thừa ra hai cái bát. Đó là cái cớ mà bọn địch tra hỏi và đánh đập ông Sa và con dâu ông hàng giờ liền. Bố con ông Sa cắn răng chịu đau để bảo vệ chúng tôi. Tuy nhiên trước khi bỏ đi, bọn địch vẫn châm lửa thiêu trụi ngôi nhà của ông Sa.
Khi lên mặt đất, nhìn ngôi nhà trở thành đống tro tàn và bố con ông Sa mình mẩy đầy thương tích, ông và anh Thi đã không cầm nổi nước mắt.
Cũng trong những ngày tháng gian nan ấy, qua đường dây giao liên an ninh, đơn vị của ông đã nhận được một cuốn băng cattsete ghi lời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn gửi cán bộ, chiến sĩ của Lực lượng Công an đang ở chiến trường. Khi nghe đến đoạn: "Đảng ta, ngành ta tự hào có những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ưu tú đã tự nguyện hy sinh cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Các đồng chí đã từng ăn củ mài, móng ngựa, môn thục, môn vót, đói cơm, nhạt muối, thiếu từng viên thuốc. Nhưng vì Tổ quốc Việt
Trong chiến đấu, no đói có nhau, gian khổ có nhau, thật là còn gì đẹp bằng mối tình đồng chí trên chiến trường"... Trước mắt ông và đồng đội như hiện lên hình ảnh của đồng chí Bộ trưởng và anh em đồng chí ở ngoài ấy vẫn sát cánh với anh em chiến sĩ nơi chiến trường ác liệt bằng mối quan tâm sát sao và sự thấu hiểu sâu sắc. Có được sự quan tâm của Đảng, của ngành, cùng với sự thương yêu, đùm bọc che chở của nhân dân, ông và các đồng chí của mình đã lần lượt vượt qua những năm tháng khó khăn, tiếp tục con đường cách mạng tới thắng lợi cuối cùng.
Miên man trong những câu chuyện với ông thời chiến tranh, tôi như được thăng hoa khi tưởng tượng về hình ảnh nhân vật điệp báo thành Huế lừng lẫy một thời. Cũng qua cuộc trò chuyện hôm nay tôi nhận thấy rằng để viết về Đại tá Nguyễn Đình Bảy - Người chiến sĩ công an đã được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang có lẽ cần có nhiều tác giả đầu tư thời gian và công sức xây dựng những tác phẩm văn học nghệ thuật mới xứng đáng với những đóng góp lớn lao của ông trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...