Chuyện cũ Hà Nội (tiếp theo)

Hồ Gươm đượm vẻ đẹp gọn xinh, không dáng dấp mênh mang như hồ Tây. Tưởng như một lúc nào đấy, đương giữa người người nô nức chen chân nơi đô hội, ở Hàng Giò, Hàng Khay ra, ở Hàng Đào, Hàng Trống dốc xuống, hốt nhiên gặp một ánh nước thoáng như cái chớp mắt của ai xanh biếc. Hồ Gươm đấy.

Cây bên Hồ Gươm

Nắng nghiêng bóng đưa những hàng dâu ngày xưa hắt vào chấm đến cầu Thê Húc, không phải một thời thơ khoa trương, mà tôi hiểu người xưa miêu tả cái khác thường của quần thể hồ Gươm, những nét riêng ấy chỉ dành cho khách biết yêu hồ. Có hôm trời quang, đứng bên tam quan đền Bà Triệu, trông lên phía tây trên làn sóng mái nhà nhấp nhô Hàng Gai, Cầu Gỗ, thấy in hình màu lam huyền của ngọn núi Ba Vì. Thế là người ven đường chẳng còn nhớ đương trong nơi phồn hoa, hay ở giữa cây và nước quanh mình mà với lên liền đến trời núi xa kia. Nhớ hồ Gươm, bao giờ tôi cũng trở lại tuổi thơ tò mò, ngây dại, say mê với những trò chơi đếm cây, đố lá, mỗi cây mỗi quả, xem các mùa đổi lá, mùa ra hoa không khi nào chán.

Làn cây ven hồ Gươm như làn mi, như ai dướn đôi mày. Không thể nghĩ cái đầm nước tuyệt vời ấy lại vắng làn mi những rèm cây.

Những hàng cây xung quanh hồ Gươm có một nền nếp riêng từ xa xưa. Thành phố Bắc Kinh xanh mướt cả dặm đường những hàng lệ liễu trập trùng mấy chục cây số ra các phía ngoại thành. Và những con đường trung tâm toàn những cây hòe cổ thụ. Cây cối hồ Gươm của Hà Nội thoạt nhìn không ra thể thức nào, nhưng để ý kỹ sẽ thấy được một lề lối không giống đâu của mỗi bóng cây bóng nước.

Có phải cây hồ Gươm đã được trồng lên từ trong những chuyện cổ tích. Ông lão nào như ông lão đeo ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ đằng cầu Đông đi xuống nghỉ chân bên hồ đặt một chiếc giành đất cây giống xuống đất. Có khi cây được trồng vào độ mưa phùn tơi đất, có khi hàng trăm năm nghìn năm mới lại gặp một ông lão. Mỗi cái cây bên nhau mà khác nhau đều mang chứng tích lịch sử và thời gian thế vậy.

Có một lúc thong thả bước, chợt ngẩng nhìn nhận ra những cây cổ thụ hôm nay trên bờ hồ Gươm đều đã chào đời từ thế kỷ trước, không biết chừng nào ông lão đeo ống tranh Giáng Kiều quảy giành cây giống đã đem từ cửa ô chợ Dừa, ô Yên Hoa vào. Phong tục nước ta, tuổi già có thói quen quý hóa thường trồng cây cho đời sau. Mỗi cây hồ Gươm đều được đưa đến từ các cổng đồng, cổng làng, bờ ao, mỗi cây đem về một hình ảnh mọi miền quê.

Cây hồ Gươm! Cây hồ Gươm! Trong đảo Ngọc giữa hồ, những cây đa, cây si, cây sanh, cây đề và những cây gạo mà ở đầu đình làng nào cũng sum suê. Thần cây đa, ma cây gạo. Cái gốc gạo hiền lành, xù xì như tảng đá vì những nhát dao tước vỏ cây từ thuở trong phố còn những cột đèn dầu thắp ở các ngã tư đường thập đạo, người ta lấy vỏ gạo về làm thuốc bóp chân sái, tay gãy - những bài thuốc ai cũng thuộc.

Những cây trong đường làng thành đại thụ cũng thấy ở đây. Những gốc lộc vừng vun lại thành một khóm mà nõn lộc vừng hái để kèm ăn gỏi cá mè, những cây sung cổ quái mỗi mùa xuân vẫn trổ lá, quả sung muối dưa, lá sung lót gói nem chạo trên Phùng nhắm với rượu gạo Mễ Trì của ba làng Mai.

Và những cây me, cây sấu vốn mọc trước ngõ, canh nấu quả me chua, nước rau muống luộc giầm sấu, sấu non đem làm chắm trẻ con nào cũng mê.

Cả những cây thường chỉ thấy trong cánh đồng trũng cũng la liệt ven hồ. Ở những đồng sâu, đồng xa, buổi trưa ngày mùa không kịp về làng, người cày đánh trâu vác bừa, quảy mạ lên nghỉ trưa tránh nắng bên những mái cầu mái quán dưới bóng cây chôi, cây nhội, sum suê xanh già như những chiếc quạt thóc dựng đứng.

Ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa vông - đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết, chỉ đến mùa hoa vông đỏ khé một góc hồ  mới nhớ ra, chứ hàng ngày qua dưới gốc vông, không ai để ý tới loại cây cọc rào quen mắt ấy.

Và cả những cây rừng, những cây rừng cũng tới đây, rừng Mai Châu, rừng đảo Cát Bà, ông tiên nào đã quảy về đây những cây kim giao - mà tiếng đồn ngày xưa vua chúa dùng bữa chỉ cần đũa gỗ quý bảo mạng này, bởi thức ăn nhiễm độc thì cái đũa xám đen lại.

Đừng lẫn cây mõ láng giềng với khóm cổ thụ lộc vừng. Cây mõ chỉ ở rừng thẳm thế mà cũng thấy đứng dậy. Quả mõ to bằng quả bưởi, vô vi như quả cây sổ ven suối bọn trẻ con chỉ nhặt để vừa đá bóng vừa chơi ném nhau.

Hai tiếng hồ liễu xưa nay gắn bó với hồ Gươm, hồ Gươm hồ liễu. Nhưng đừng ai tưởng lúc sầm uất nhất quanh hồ Gươm chỉ toàn lối đi liễu rủ. Xưa rày chưa bao giờ có quang cảnh ấy. Lệ liễu hồ Gươm không yêu kiều vì dặm liễu, dặm dài. Mà liễu hồ Gươm chỉ lác đác. Những cây liễu đứng một mình buông tóc trong gió in bóng hồ điểm trang bức tranh hồ cuối thu phẳng lặng, có hoa lộc vừng đỏ hây rơi từng cánh xuống mặt nước.

Ở bên gốc đa chỗ đầu Tràng Thi trông sang xưa kia đã xanh um, rậm rạp những bụi mây, bụi song. Giữa thành phố mà hóa như đất trung du bán sơn địa, người ta nhớ đôi quanh gánh dưới mái tranh và những sợi dây mây phơi váy áo chăng qua mặt sân lát gạch Bát Tràng. Bây giờ vẫn còn một bụi mây quý lắm.

Nhưng tôi nhớ nhất và cho đến tận lúc này vẫn không hiểu sao bên hồ Gươm ngày trước lại có một cây ô môi, giữa mùa hạ hoa nở như hoa đào. Cây ô môi chỉ nhiều ở miền Nam . Chẳng lẽ đã có một lão trượng vác ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ Gò Công, Hà Tiên đem ra một cành ô môi chiết trồng xuống ven hồ chỗ đất chỗ nước lịch sử này? Sao  lại không thể thế, khi hồ Gươm hôm nay đương đơm xôi lên những chùm bằng lăng hoa tím rừng miền Đông Nam Bộ, những lão ông đeo tranh Giáng Kiều hay những bộ đội Cụ Hồ trong cuộc chiến tranh vừa qua, những con người không bao giờ chết đã đem những giống cây khắp quê hương về trồng ven hồ Gươm.

Cuối thế kỷ trước, khi người Pháp vừa chiếm Hà Nội, các công sở mới mọc lên bên kia, ngày ngày công chức ở bên Hàng Gai đi làm việc, thuyền tam bản từ đầu Hàng Trống qua Tháp Rùa sang bên này rồi sau người ta mới đắp ra con đường vòng hồ chém ngang trước cửa đền Bà Kiệu.

Lịch sử đau thương quãng ấy  đã sang trang rồi, nhưng còn dấu tích trớ trêu trong cây bên đường. Âëy là cái tam quan đền Bà Kiệu đứng chơ vơ ở bờ đường bên này mà đền thì ở bên kia, ấy là những cây gỗ tếch cao lớn chỉ mọc ở rừng Thượng Lào, và những cây phượng vĩ quê ở Tân - ghinê ngoài đại dương...

Cây quanh hồ Gươm tụ hội các thứ cây của làng nước - và của thời thế.--PageBreak--

Chợ, kẻ chợ

Bộ mặt đời sống xã hội của một vùng là cái Chợ. Chữ "kẻ" là một từ cổ, chỉ một vùng. Lại cũng chỉ một nơi đô hội, như Kẻ Chợ cũng là Thăng Long, Hà Nội. Một vùng như Kẻ Sở (thôn Quán La), Kẻ Nành (xã Ninh Hiệp), Kẻ Bưởi (vùng Bưởi, Kẻ Cáo (các làng ở Xuân Tảo). Tên gọi Hà Nội là sau này, còn những tên Thăng Long, Đông Quan, Đống Đa thay đổi mỗi thời kỳ, nhưng lúc nào đất này dân gian, phố phường vẫn gọi là Kẻ Chợ.

Ở Kẻ Chợ, không kể những chợ còn tên trong bản đồ và chỉ thấy trong thơ phú như chợ Cầu Đông, chợ Võng Ta hãy đếm thì thấy những chợ búa, những cái chợ ở Kẻ Chợ ngày càng nhiều. Một lẽ giản dị, có người thì có chợ. Ở đấy, người ta tìm kiếm, đổi chác, mua bán cái ăn, cái dùng cho đời sống. Cái chợ thật quý, khi vùng ấy chợ búa đã vừa phải. Quý thế nên khi có một chợ mới người ta không dùng chữ hoa mỹ như khai trương, khánh thành mà gọi thân thương là ngày mở chợ, cưới chợ.

Khi chợ Cầu Đông, chợ Gạo không còn, vùng phố cổ băm sáu phố phường, có chợ Đồng Xuân. Cầu chợ xây cốt thép, mái bằng thật cao lợp tôn. Hà Nội có 3 chợ chính: chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam , chợ Hôm. Chợ có cầu có quán, nhà thầu vé chợ, phu quét chợ, phu gánh nước rửa chợ, chợ hợp giờ giấc sớm tối. Khai trương một cái chợ thật đông vui. Ngày đầu mở chợ có cúng lễ, chèo hát, người chơi chợ, xem chợ nô nức như hội. Cưới chợ thật linh đình. Các cụ già quanh hồ Tây còn kể cho con cháu nghe mãi về những trò vui trong ngày cưới chợ Bưởi.

Chợ Hàng Da, chợ Đuổi so tuổi thì chỉ mới như các "chợ xanh" bây giờ, chợ họp đứng họp ngồi trong lều cọc tre lợp vỉ buồm trên bãi trống. Gọi là chợ Đuổi, không phải chợ bị đuổi như có bài báo cắt nghĩa mà chợ chính họp cả ngày đến chiều. Người kéo chuông, đánh trống báo tan chợ - chợ Đồng Xuân là 5 giờ chiều. Phu quét, phun nước, rửa chợ rồi khóa cổng chợ.

Chợ Hôm - chữ chợ Hôm, chợ mai đã ra chợ chiều, chợ sớm rồi. Vì phải đến quá trưa, người đánh giậm, kéo vó, đơm đó các ao đầm ở Đuôi Cá mới kịp đem cá cua, tôm tép, ốc ếch vào chợ Hôm. Mặc dù chợ chiều đông hơn buổi sáng, nhưng cũng chập tối thì đuổi chợ. Hàng quán, gồng gánh rau cỏ, cá mú, mắm muối chợ Hôm dọn ra bán nốt ở bãi cỏ gần Vân Hồ, chỗ làng Thể Giao. Chợ Đuổi tiện cho người về muộn lo bữa chiều. Gần chợ Hôm mới có chợ Đuổi, phố xá nơi ấy còn hoang vắng khác trên chợ Hàng Da và Cửa Nam giữa phố, hiếm đất trống.

Ba đầu ô có ba chợ to: chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Dừa. Những cái chợ nửa tỉnh nửa quê này còn là chợ đổi vai, rau đậu đem bán đêm và sáng sớm. Người mua buôn rồi gánh, rồi thồ vào các chợ trong, như các chợ đổi vai ở Cầu Giấy, ở Nhật Tân và Bắc Qua bây giờ.

Còn những chợ có phiên, có hạn nhưng chỉ là chợ hè phố, như phiên chợ tơ ngày 1 và ngày 6 trong tháng ở phố Hàng Đào. Các làng canh cửi trong Hà Đông ra bán the lụa và mua tơ ở các nhà buôn phố Hàng Đào, Hàng Gai. Chợ Hoa phố sông Tô Lịch (Hàng Lược) các làng Quảng Bá, Nhật Tân vào bán cành đào, chậu hoa cúc chỉ có chợ trong phiên áp tết.

Chợ Đồng Xuân năm 1974.
Chợ Đồng Xuân năm 1974.

Có những chợ thấp thoáng ra đời rồi lại mất ngay do biến thiên của đời sống và lịch sử thành phố. Đầu năm 1946, khi Pháp chiếm Hà Nội, thành phố còn thưa thớt người, có một cái chợ nơi mua bán thức ăn rau cỏ ở ngay phố Tràng Tiền, Hàng Khay bên hồ Gươm. Cũng như đầu năm 1954, Pháp rút khỏi Hà Nội, người di cư vào Nam nhiều, cũng tự nhiên thành cái "chợ giời" bên hồ Thiền Quang, người đem ra đấy bán tống bán tháo đủ thứ - sau này chợ Giời cố định gọi là chợ Hòa Bình mới dọn cả xuống gần chùa Vua.

Thành phố càng đông người thì chợ mọc càng nhanh, có lều quán, cầu chợ hẳn hơi. Chợ Gia Ngư liền chợ Hàng Bè, lòng đường thành chợ. Chợ 19-12 còn gọi là chợ Âm Phủ. Thành tên ấy do sự tích 1947, Pháp chiếm lại Hà Nội, rác rưởi và những xác người chết đường, không phân biệt là bộ đội, là dân thường được đem về chôn vào hẻm này, rồi đắp lên một gò cỏ dại, ở giữa xây một cái lư hương bằng xi măng.

Có người nhầm là mộ "chiến sĩ vô danh" của Pháp dựng. Quãng năm 1959, thành phố đã chuyển những hài cốt ở đấy ra nghĩa trang Văn Điển để mở chợ 19-12, kỷ niệm ngày 19/12/1946 Hà Nội nổ súng đánh Pháp, cũng là ngày toàn quốc kháng chiến. Chợ Châu Long cũng ra đời trong thời kỳ Pháp chiếm lại Hà Nội. Trước kia đấy là bãi cỏ trước cửa chùa Châu Long. Không phải có chùa Châu Long, phố Châu Long (trước phố này là Ăng toan Bon nê) thì tất nhiên có chợ Châu Long cổ như Giáo sư Trần có lần bảo thế.

Bên đường vào Hà Đông, có chợ Ngã Tư Sở. Rồi ở Cầu Mới, thêm chợ Xanh. Thành tên chợ Xanh không phải vì mặt tường các cửa mậu dịch ở đây quét vôi màu xanh, mà tên chợ xanh còn chỉ chung các nơi bán rau đậu của cái chợ cóc nay chỗ này mai chỗ khác, nếu bị dồn đuổi. Nhưng chợ xanh đầu đường vẫn tồn tại và lúc nào cũng hớt hải. Bởi vào trong chợ phải tần phiền khóa xe, gửi xe, đằng này người vớ vội bó rau, bánh đậu chỉ dừng lại là mua được, mà người bán hàng cũng đạp xe thồ rong ruổi, tiện cả đôi bên.

Cho đến tháng 12/1995, ở nội thành Hà Nội có 135 cái chợ quy mô, chợ mới sau cùng là chợ Long Biên - không kể chợ xanh, chợ cóc, chợ chớp nhoáng bất chợt đầu hôm sớm mai. Mới có siêu thị ở gác chợ Hôm mua hàng tự chọn, không phải người đứng bán. Nghe nói có siêu thị đã đóng cửa vì vắng khách. Cái chợ cũng như cửa hàng bán thức ăn sống, vài hôm hàng ế thì phải dẹp tiệm, không thể thử thách lâu được. Rồi ra còn mới mẻ ra sao nữa chưa biết.

Cũng là cái chợ, nhưng ở đất Kẻ Chợ xưa nay mỗi thời cũng có những nét khác nhau. Có điều mỗi ngày thành phố càng đông thì một nhiều chợ hơn

T.H.

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.