Chuyện cũ Hà Nội

Không xa xưa lắm, vào tuổi tôi còn thấy quang cảnh vào mùa hạ mưa chiều, nước Hồ Tây dềnh lên chảy ra sông. Cuối thu, hồ bắt đầu cạn, sông Tô Lịch lại chảy vào hồ. Bởi thế mà sông Tô Lịch có tên là sông Chảy Ngược...

Sông Tô Lịch chảy ngược

Cửa Hà Khẩu chỗ Chợ Gạo ra cột Đồng Hồ giữa quãng đầu phố Hàng Chiếu với cuối Hàng Buồm. Nước cửa sông Tô Lịch thoạt tiên bị đe dọa lấp vì sông Cái đổi dòng sang phía Gia Lâm, thuyền bè không vào bến được. Thông thường cứ vài chục năm, sông Cái lại chuyển dòng.

Thời Pháp mới chiếm Hà Nội, con sông còn thong dong ven đê bên này,  ngày nay còn di tích những tên bến bãi và thổ sản được tải đến, đem ở sông lên: Bến Nứa, Cầu Đất, Hàng  Buồm, Hàng Than, Hàng Nâu, Chợ Gạo... Cửa sông bị cát vùi dần, thế là người Pháp lấp hẳn, lấy đất, sửa sang đường sá. Nhưng chỉ cửa sông bị bịt lại, đắp lên làm đường còn dòng sông thì ở dưới thành cái  cống ngầm, đến bây giờ vẫn còn.

Nước rãnh cả khu băm sáu phố phường thải xuống chảy qua các phố: Ngõ Gạch, Hàng Đường, Hàng Mã, Hàng Lược (ngày trước, người Pháp gọi chỗ cống Chéo Hàng Lược là phố sông Tô Lịch) ra dọc Cửa Bắc đến Vườn Ươm Cây bên Trường Chu Văn An. Cái cống sông cũ đến đấy, thì ra lộ thiên trở lại dòng sông  - nó chỉ còn là cái rãnh thì đúng hơn. Thành phố đã thuê một nhà thầu quê ở Bưởi lát xi măng làm cống ngầm qua Vườn Ươm Cây đến Thụy Khuê.

Thế là, từ đầu làng Thụy tự dưng phơi ra dòng nước hôi thối đen xì tuôn xuống đến cống chợ Bưởi, đấy không còn dòng sông chỉ là nước cống  mượn dòng chảy ra.

Sông Tô Lịch đến đầu làng Hồ Khẩu có một nhánh thông vào Hồ Tây, qua cống Đô. Hiện giờ vẫn còn ven đường hai lan can thành cống. Dòng sông này qua sau lưng thôn Đông Lân - trong thôn có dinh cơ nhà danh sĩ Lý Văn Phức. Làng Hồ Khẩu vốn làm nghề giấy dó, ven hồ có dãy lều cối giã dó làm giấy, gọi là cối chày tay. Tiếng "xựt... xì tum" đêm ngày vang động mặt con hồ. Câu ca: “Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chày Yên Thái canh gà Thọ Xương”. Nói thật đúng, tiếng chày giã dó làng Hồ Khẩu ven hồ chỗ cống Đô cửa sông Tô Lịch vào hồ Tây, còn làng Yên Thái ở tận chợ Bưởi, tiếng chày giã dó không thể vang xa ra đến hồ được. Tôi phải nói lại chuyện này cho rõ thế!

Vào mùa hạ mưa chiều, nước Hồ Tây dềnh lên chảy ra sông. Cuối thu, hồ bắt đầu cạn, sông Tô Lịch lại chảy vào hồ. Bởi thế mà sông Tô Lịch có tên là sông Chảy Ngược.

Không xa xưa lắm, vào tuổi tôi còn thấy quang cảnh ấy. Mức nước sông vào hồ Tây hay khi nước hồ Tây ra sông, cá hồ ra vào náo nhiệt cống Đô. Vó bè san sát hai bên cống và trong cửa sông, lưới thả, chũm úp, đèn đóm mò cá lập lòe thâu đêm. Trẻ con thích chơi bơi sông từ cống Đô ra hồ, quãng ấy sâu và nước trong, hai bên bờ nước trong vắt, bè muống dài vào tận chỗ nhà ông hương Lười, bên kia là vạc làng Hồ, sum suê một dãy cây nhãn lồng ngon có tiếng, năm nào cũng sai quả.

Sông Tô Lịch từ thành phố ra qua hai cống đến vùng Bưởi, cống Đô làng Hồ Khẩu và cống Đường Thành đầu chợ. Cống Đô thông nước sông Tô Lịch ra hồ Tây. Con sông chảy ra chảy vào như thế không biết tốt xấu thế nào về các mặt khoa học của con sông, con hồ, của môi trường vùng đất ấy, chỉ biết đã lâu đời sống nối với hồ và nước hai mùa chảy ngược nhau.

Đến bây giờ thì dòng sông, cửa sông Tô Lịch vào hồ Tây chỉ còn trong sử sách và bản đồ xưa.

Cái cống Đô vẫn còn trên một dòng nước hôi thối. Đấy dần dà hai bên thành bãi rác, người lấn ra làm nhà cửa, chỗ xây nhà tầng, biệt thự, khách sạn trông xuống cái rãnh nước đen ngòm. Mới đây, không biết ai đã xây một bức tường lên thành cống, không trông thấy dòng nước ra hồ nữa. Chắc người ta làm cho khuất mắt để lấn nốt quãng này.

Bao giờ trở lại con sông lịch sử chảy ngược, như trong tấm bản đồ Trung Đô - Thăng Long (1490), thời ấy đã họa được con sông vào hồ qua cửa Đô mặt nước hồ Tây rộng đến chỗ những chòm cây si cổ thụ buông rễ xuống mặt hồ trước đền Voi Phục.

Ông trưởng Bưởi

Mùa hạ, những rặng cây nhãn xanh thẫm bên bờ sông. Từ làng Hồ xuống Nghĩa Đô, chỗ thì lác đác, chỗ cây liền thành bãi, hoa nhãn vàng như đơm xôi trên mặt lá. Từng đàn những cánh quýt, cánh cam, bọ xít không biết vỡ tổ đâu về, suốt ngày vè vè trong lùm cây.

Mùa hoa nhãn, chúng tôi đợi những trận mưa rào xuống, nước hồ Tây duềnh lên, đổ ra sông Tô Lịch. Thế rồi, một trận mưa rào thâu đêm. Sấm chớp chìm ngập trong tiếng mưa lẫn lộn cả vào giấc ngủ. Sáng ra, thấy những cành lá lưng cây nhãn cũng lốm đốm đỏ bùn, nước bắn tới. Ngoài kia, dòng sông lờ đờ mọi khi, bây giờ nước đã dâng lên nhìn ngang mắt. Những đám bèo sen Nhật ở cống Đõ cửa hồ vỡ ra lênh đênh từng mảnh xanh ngơ ngác bên những chùm rễ bị lật ngửa trắng nhởn, mặt nước ngầu đỏ. Đường đầu chợ, nước ngập quá đầu gối, người đi về lội ào ào. Đêm mai mà còn mưa thì nước  sẽ lên nữa, người ra ngoài làng có thể phải đi mảng bè chuối, thuyền thúng - mỗi năm đều thế, bè kéo vó xúm xít ngay quanh cửa cống đường Thành.

Chúng tôi chỉ đợi cái thích có thế. Mùa hè những trận mưa rào, nước lên, sông tràn bờ, trẻ con tha hồ những trò chơi mới trong làn nước chỉ mai kia lại cạn xuống, không nhởn nhơ trên sông bây giờ thì lại phải hóng đến mùa mưa sang năm, lâu quá.

Ở chỗ ô Cầu Dừa, những gọng vó và bọc lưới của ông trưởng Bưởi đã đem ra sửa soạn đồ lề kéo vó. Chân vó buộc gốc cây bưởi, chỗ ấy hôm qua còn là bãi cứt sắt của bố con ông phó rèn đổ thành đống. Bây giờ nước ngập sóng óc ách, cả nhà lò rèn phải chạy nước đã quẳng một đống sắt ngổn ngang bên lũy tre.

Nhưng trận mưa đầu mùa chỉ có một đêm. Hôm sau, nước đã xuống dưới dệ cỏ như mọi khi. Không đặt vó được, mọi thứ gọng và cần vó để gốc cây, ông trưởng Bưởi lại vác cất đi lúc nào không biết. Bố con lão phó rèn lại đem cọc lều xuống cắm bên cầu Dừa, tiếng kéo bễ phì phò, tiếng búa đập đe chí chát, chí chát tóe lửa như mọi ngày.--PageBreak--

Cũng chẳng để ý. Chỉ tiếc nước chưa lên nữa để bơi được ở ngay trước đình. Nhưng trên sông Tô Lịch mùa hè còn khối chỗ thích, dẫu sao cũng đã có trận mưa to, nước có lắng xuống rồi vẫn trong leo lẻo, lội trông thấy hai bàn chân trắng bạch.

Trên các xóm vạc làng Hồ làng Đông, làng Yên Thái có những quãng bờ sông hõm vào, vôi bám vàng chóe như bờ gạch xây, thường ngày người ta ra đãi bìa và ngâm vỏ dó ở đấy. Công việc nghề làm giấy đã vào câu hát từ xưa. “Kìa vạc nấu dó, kìa sông đã bìa. Kìa giếng Yên Thái  như kia... Ở trong làng mọi sinh hoạt thường được đặt vào trong câu vè đời sau kể chuyện đời trước. Chú Tước đầu to. Ba Bò quảy nước...”. Chú Tước hay hát tuồng, cái đầu to. Ba Bò sớm chuyên quảy nước thuê đổ vào tàu seo giấy... giếng Yên Thái như kia. Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh... Chỗ chúng tôi chơi nghịch không phải giếng thơi, giếng đất mà là bên vạc bờ sông, nhũng cái hũm đãi bìa, ngâm dó, bằng cái ao sâu ngập đầu, không biết bơi dễ chết chìm lắm. Thế mà chập tối và những đêm sáng trăng  vẫn nghe tiếng trẻ í ới đùa rỡn dưới nước.

Rồi cầu được ước thấy, dần dà vào sâu mùa hạ, những trận mưa đêm liên miên sầm sập trong giấc ngủ. Nhiều hôm, ngày nắng chang chang, đêm lại mưa.

Bây giờ không phải lên ao vạc mà chúng tôi vùng vẫy ngay khúc sông qua trước cửa đình.

Ông trưởng Bưởi lại ra kéo vó. Ông trưởng Bưởi là ai, người họ nào, người làng hay người thiên hạ đến ngụ cư. Không biết. Thỉnh thoảng, gặp ông ngủ ngoài cầu Ngói. Lúc nào cũng thấy lừ đừ chậm chậm, ông hiện ra như một bóng mây đen. Mỗi khi nước to, lại thấy ông kéo vó, ông chỉ ngồi cạnh gốc bưởi. Mặt ông, râu tóc và lông mày bạc phếch, cùng màu với cái áo nâu da bò mồ hôi muối trắng. Người ông cao cao cẳng chân đều đều như hai ống sậy, vấu đầu gối tròn như hai quả bưởi lồi ra. Người ta nói ông bị bệnh sa đì nặng.

Ven Hồ Tây xưa (ảnh trái) và Đường Thanh Niên ngày nay.
Ven Hồ Tây xưa (ảnh trái) và Đường Thanh Niên ngày nay.

Cứ trông thấy ông, bọn trẻ lại thì thào với nhau về cái bệnh ghê rợn ấy. Một đứa tỏ ra hiểu biết, kể: "Ngày trước ông trưởng Bưởi cũng có vợ như các người lớn. Đến khi ông bị bệnh sưng bìu to lên thì vợ bỏ ông, bà ấy cõng con đi ăn mày, rồi mất tông tích. Ông trưởng Bưởi châm lửa đốt cái nhà ở chỗ kia cho hết dấu vết con người ăn ở tệ bạc. Từ đấy ông ở một mình".

Chúng tôi bơi dưới sông rồi lên ngồi xem ông trưởng Bưởi cất vó. Trong lòng vó lấp lánh vảy nước, chẳng được một con niềng niễng!

Một đứa nói với ông trưởng Bưởi, vẻ thành thạo:

- Nước to thế này, cá ra sông hết rồi. Phải nhử thính, nhử thính. Bỏ thính vào vó, cá ngửi mùi thơm mới được. Ông trưởng cho chúng cháu luyện thính bỏ vó, nhé?

Ông trưởng Bưởi nhìn bọn trẻ rồi "ầu" một cái.

Chúng tôi chạy vào trong xóm. Đứa đi xúc cơm nguội, đứa rang cám. Một chốc đã đem ra một gói thính thơm phức. Chúng tôi làm tự nhiên như cái vó của chúng tôi. ông trưởng Bưởi ngồi thẫn thờ, để mặc. Nắm thính bỏ vào lòng vó rồi đặt xuống nước. Một lát kéo lên lao xao những con cá săn sắt đuôi cờ lại ngoằn ngoèo cả con rắn mòng. Chúng tôi chộp cả cá, cả rắn xâu vào cọng hoa cỏ xước, xách lên. Chẳng có giỏ, có thúng đựng, phải ném lên cỏ.

Ông trưởng Bưởi vẫn ngồi tựa vào gốc nhãn lừ đừ nhìn chúng tôi kéo vó cho ông. Rô ron! Rô ron! Mài mại! Con mài mại! Cả con cua, con gọng vó, con cua! Ông trưởng Bưởi ngước nhìn, hàm răng móm mếu máo cười.

Chúng tôi lại nhảy xuống bơi ra giữa sông, đánh sóng dồn cá vào. Nhưng chẳng được nhách nào to hơn những con cá đuôi cờ lúc nãy.

Hôm ấy, chúng tôi kéo cho ông trưởng Bưởi được mấy vó cá cua lẫn lộn.

Không nhớ rồi từ năm nào nước sông không lên đến cầu Dừa nữa. Cả mép đá thềm sân đình vào mùa mưa cũng chẳng ngập nước. Con sông trong xanh mùa hè đi đâu mất, để lại một vệt bùn đen sẫm. Nhưng trong trí nhớ tôi, sông Tô Lịch vẫn trong xanh, khi có mưa rào đầu hạ thì nước lên, có người ra kéo vó bè ở cửa cống Đõ, cống đường Thành, có cụm bèo sen trôi và trẻ con bơi đùa inh ỏi. Ông trưởng Bưởi lại đem vó ra thả chỗ cầu Dừa

T.H.

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.