Sông Tô Lịch chảy ngược
Cửa Hà Khẩu chỗ Chợ Gạo ra cột Đồng Hồ giữa quãng đầu phố Hàng Chiếu với cuối Hàng Buồm. Nước cửa sông Tô Lịch thoạt tiên bị đe dọa lấp vì sông Cái đổi dòng sang phía Gia Lâm, thuyền bè không vào bến được. Thông thường cứ vài chục năm, sông Cái lại chuyển dòng.
Thời Pháp mới chiếm Hà Nội, con sông còn thong dong ven đê bên này, ngày nay còn di tích những tên bến bãi và thổ sản được tải đến, đem ở sông lên: Bến Nứa, Cầu Đất, Hàng Buồm, Hàng Than, Hàng Nâu, Chợ Gạo... Cửa sông bị cát vùi dần, thế là người Pháp lấp hẳn, lấy đất, sửa sang đường sá. Nhưng chỉ cửa sông bị bịt lại, đắp lên làm đường còn dòng sông thì ở dưới thành cái cống ngầm, đến bây giờ vẫn còn.
Nước rãnh cả khu băm sáu phố phường thải xuống chảy qua các phố: Ngõ Gạch, Hàng Đường, Hàng Mã, Hàng Lược (ngày trước, người Pháp gọi chỗ cống Chéo Hàng Lược là phố sông Tô Lịch) ra dọc Cửa Bắc đến Vườn Ươm Cây bên Trường Chu Văn An. Cái cống sông cũ đến đấy, thì ra lộ thiên trở lại dòng sông - nó chỉ còn là cái rãnh thì đúng hơn. Thành phố đã thuê một nhà thầu quê ở Bưởi lát xi măng làm cống ngầm qua Vườn Ươm Cây đến Thụy Khuê.
Thế là, từ đầu làng Thụy tự dưng phơi ra dòng nước hôi thối đen xì tuôn xuống đến cống chợ Bưởi, đấy không còn dòng sông chỉ là nước cống mượn dòng chảy ra.
Sông Tô Lịch đến đầu làng Hồ Khẩu có một nhánh thông vào Hồ Tây, qua cống Đô. Hiện giờ vẫn còn ven đường hai lan can thành cống. Dòng sông này qua sau lưng thôn Đông Lân - trong thôn có dinh cơ nhà danh sĩ Lý Văn Phức. Làng Hồ Khẩu vốn làm nghề giấy dó, ven hồ có dãy lều cối giã dó làm giấy, gọi là cối chày tay. Tiếng "xựt... xì tum" đêm ngày vang động mặt con hồ. Câu ca: “Gió đưa cành trúc la đà. Tiếng chày Yên Thái canh gà Thọ Xương”. Nói thật đúng, tiếng chày giã dó làng Hồ Khẩu ven hồ chỗ cống Đô cửa sông Tô Lịch vào hồ Tây, còn làng Yên Thái ở tận chợ Bưởi, tiếng chày giã dó không thể vang xa ra đến hồ được. Tôi phải nói lại chuyện này cho rõ thế!
Vào mùa hạ mưa chiều, nước Hồ Tây dềnh lên chảy ra sông. Cuối thu, hồ bắt đầu cạn, sông Tô Lịch lại chảy vào hồ. Bởi thế mà sông Tô Lịch có tên là sông Chảy Ngược.
Không xa xưa lắm, vào tuổi tôi còn thấy quang cảnh ấy. Mức nước sông vào hồ Tây hay khi nước hồ Tây ra sông, cá hồ ra vào náo nhiệt cống Đô. Vó bè san sát hai bên cống và trong cửa sông, lưới thả, chũm úp, đèn đóm mò cá lập lòe thâu đêm. Trẻ con thích chơi bơi sông từ cống Đô ra hồ, quãng ấy sâu và nước trong, hai bên bờ nước trong vắt, bè muống dài vào tận chỗ nhà ông hương Lười, bên kia là vạc làng Hồ, sum suê một dãy cây nhãn lồng ngon có tiếng, năm nào cũng sai quả.
Sông Tô Lịch từ thành phố ra qua hai cống đến vùng Bưởi, cống Đô làng Hồ Khẩu và cống Đường Thành đầu chợ. Cống Đô thông nước sông Tô Lịch ra hồ Tây. Con sông chảy ra chảy vào như thế không biết tốt xấu thế nào về các mặt khoa học của con sông, con hồ, của môi trường vùng đất ấy, chỉ biết đã lâu đời sống nối với hồ và nước hai mùa chảy ngược nhau.
Đến bây giờ thì dòng sông, cửa sông Tô Lịch vào hồ Tây chỉ còn trong sử sách và bản đồ xưa.
Cái cống Đô vẫn còn trên một dòng nước hôi thối. Đấy dần dà hai bên thành bãi rác, người lấn ra làm nhà cửa, chỗ xây nhà tầng, biệt thự, khách sạn trông xuống cái rãnh nước đen ngòm. Mới đây, không biết ai đã xây một bức tường lên thành cống, không trông thấy dòng nước ra hồ nữa. Chắc người ta làm cho khuất mắt để lấn nốt quãng này.
Bao giờ trở lại con sông lịch sử chảy ngược, như trong tấm bản đồ Trung Đô - Thăng Long (1490), thời ấy đã họa được con sông vào hồ qua cửa Đô mặt nước hồ Tây rộng đến chỗ những chòm cây si cổ thụ buông rễ xuống mặt hồ trước đền Voi Phục.
Ông trưởng Bưởi
Mùa hạ, những rặng cây nhãn xanh thẫm bên bờ sông. Từ làng Hồ xuống Nghĩa Đô, chỗ thì lác đác, chỗ cây liền thành bãi, hoa nhãn vàng như đơm xôi trên mặt lá. Từng đàn những cánh quýt, cánh cam, bọ xít không biết vỡ tổ đâu về, suốt ngày vè vè trong lùm cây.
Mùa hoa nhãn, chúng tôi đợi những trận mưa rào xuống, nước hồ Tây duềnh lên, đổ ra sông Tô Lịch. Thế rồi, một trận mưa rào thâu đêm. Sấm chớp chìm ngập trong tiếng mưa lẫn lộn cả vào giấc ngủ. Sáng ra, thấy những cành lá lưng cây nhãn cũng lốm đốm đỏ bùn, nước bắn tới. Ngoài kia, dòng sông lờ đờ mọi khi, bây giờ nước đã dâng lên nhìn ngang mắt. Những đám bèo sen Nhật ở cống Đõ cửa hồ vỡ ra lênh đênh từng mảnh xanh ngơ ngác bên những chùm rễ bị lật ngửa trắng nhởn, mặt nước ngầu đỏ. Đường đầu chợ, nước ngập quá đầu gối, người đi về lội ào ào. Đêm mai mà còn mưa thì nước sẽ lên nữa, người ra ngoài làng có thể phải đi mảng bè chuối, thuyền thúng - mỗi năm đều thế, bè kéo vó xúm xít ngay quanh cửa cống đường Thành.
Chúng tôi chỉ đợi cái thích có thế. Mùa hè những trận mưa rào, nước lên, sông tràn bờ, trẻ con tha hồ những trò chơi mới trong làn nước chỉ mai kia lại cạn xuống, không nhởn nhơ trên sông bây giờ thì lại phải hóng đến mùa mưa sang năm, lâu quá.
Ở chỗ ô Cầu Dừa, những gọng vó và bọc lưới của ông trưởng Bưởi đã đem ra sửa soạn đồ lề kéo vó. Chân vó buộc gốc cây bưởi, chỗ ấy hôm qua còn là bãi cứt sắt của bố con ông phó rèn đổ thành đống. Bây giờ nước ngập sóng óc ách, cả nhà lò rèn phải chạy nước đã quẳng một đống sắt ngổn ngang bên lũy tre.
Nhưng trận mưa đầu mùa chỉ có một đêm. Hôm sau, nước đã xuống dưới dệ cỏ như mọi khi. Không đặt vó được, mọi thứ gọng và cần vó để gốc cây, ông trưởng Bưởi lại vác cất đi lúc nào không biết. Bố con lão phó rèn lại đem cọc lều xuống cắm bên cầu Dừa, tiếng kéo bễ phì phò, tiếng búa đập đe chí chát, chí chát tóe lửa như mọi ngày.--PageBreak--
Cũng chẳng để ý. Chỉ tiếc nước chưa lên nữa để bơi được ở ngay trước đình. Nhưng trên sông Tô Lịch mùa hè còn khối chỗ thích, dẫu sao cũng đã có trận mưa to, nước có lắng xuống rồi vẫn trong leo lẻo, lội trông thấy hai bàn chân trắng bạch.
Trên các xóm vạc làng Hồ làng Đông, làng Yên Thái có những quãng bờ sông hõm vào, vôi bám vàng chóe như bờ gạch xây, thường ngày người ta ra đãi bìa và ngâm vỏ dó ở đấy. Công việc nghề làm giấy đã vào câu hát từ xưa. “Kìa vạc nấu dó, kìa sông đã bìa. Kìa giếng Yên Thái như kia... Ở trong làng mọi sinh hoạt thường được đặt vào trong câu vè đời sau kể chuyện đời trước. Chú Tước đầu to. Ba Bò quảy nước...”. Chú Tước hay hát tuồng, cái đầu to. Ba Bò sớm chuyên quảy nước thuê đổ vào tàu seo giấy... giếng Yên Thái như kia. Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh... Chỗ chúng tôi chơi nghịch không phải giếng thơi, giếng đất mà là bên vạc bờ sông, nhũng cái hũm đãi bìa, ngâm dó, bằng cái ao sâu ngập đầu, không biết bơi dễ chết chìm lắm. Thế mà chập tối và những đêm sáng trăng vẫn nghe tiếng trẻ í ới đùa rỡn dưới nước.
Rồi cầu được ước thấy, dần dà vào sâu mùa hạ, những trận mưa đêm liên miên sầm sập trong giấc ngủ. Nhiều hôm, ngày nắng chang chang, đêm lại mưa.
Bây giờ không phải lên ao vạc mà chúng tôi vùng vẫy ngay khúc sông qua trước cửa đình.
Ông trưởng Bưởi lại ra kéo vó. Ông trưởng Bưởi là ai, người họ nào, người làng hay người thiên hạ đến ngụ cư. Không biết. Thỉnh thoảng, gặp ông ngủ ngoài cầu Ngói. Lúc nào cũng thấy lừ đừ chậm chậm, ông hiện ra như một bóng mây đen. Mỗi khi nước to, lại thấy ông kéo vó, ông chỉ ngồi cạnh gốc bưởi. Mặt ông, râu tóc và lông mày bạc phếch, cùng màu với cái áo nâu da bò mồ hôi muối trắng. Người ông cao cao cẳng chân đều đều như hai ống sậy, vấu đầu gối tròn như hai quả bưởi lồi ra. Người ta nói ông bị bệnh sa đì nặng.
Cứ trông thấy ông, bọn trẻ lại thì thào với nhau về cái bệnh ghê rợn ấy. Một đứa tỏ ra hiểu biết, kể: "Ngày trước ông trưởng Bưởi cũng có vợ như các người lớn. Đến khi ông bị bệnh sưng bìu to lên thì vợ bỏ ông, bà ấy cõng con đi ăn mày, rồi mất tông tích. Ông trưởng Bưởi châm lửa đốt cái nhà ở chỗ kia cho hết dấu vết con người ăn ở tệ bạc. Từ đấy ông ở một mình".
Chúng tôi bơi dưới sông rồi lên ngồi xem ông trưởng Bưởi cất vó. Trong lòng vó lấp lánh vảy nước, chẳng được một con niềng niễng!
Một đứa nói với ông trưởng Bưởi, vẻ thành thạo:
- Nước to thế này, cá ra sông hết rồi. Phải nhử thính, nhử thính. Bỏ thính vào vó, cá ngửi mùi thơm mới được. Ông trưởng cho chúng cháu luyện thính bỏ vó, nhé?
Ông trưởng Bưởi nhìn bọn trẻ rồi "ầu" một cái.
Chúng tôi chạy vào trong xóm. Đứa đi xúc cơm nguội, đứa rang cám. Một chốc đã đem ra một gói thính thơm phức. Chúng tôi làm tự nhiên như cái vó của chúng tôi. ông trưởng Bưởi ngồi thẫn thờ, để mặc. Nắm thính bỏ vào lòng vó rồi đặt xuống nước. Một lát kéo lên lao xao những con cá săn sắt đuôi cờ lại ngoằn ngoèo cả con rắn mòng. Chúng tôi chộp cả cá, cả rắn xâu vào cọng hoa cỏ xước, xách lên. Chẳng có giỏ, có thúng đựng, phải ném lên cỏ.
Ông trưởng Bưởi vẫn ngồi tựa vào gốc nhãn lừ đừ nhìn chúng tôi kéo vó cho ông. Rô ron! Rô ron! Mài mại! Con mài mại! Cả con cua, con gọng vó, con cua! Ông trưởng Bưởi ngước nhìn, hàm răng móm mếu máo cười.
Chúng tôi lại nhảy xuống bơi ra giữa sông, đánh sóng dồn cá vào. Nhưng chẳng được nhách nào to hơn những con cá đuôi cờ lúc nãy.
Hôm ấy, chúng tôi kéo cho ông trưởng Bưởi được mấy vó cá cua lẫn lộn.
Không nhớ rồi từ năm nào nước sông không lên đến cầu Dừa nữa. Cả mép đá thềm sân đình vào mùa mưa cũng chẳng ngập nước. Con sông trong xanh mùa hè đi đâu mất, để lại một vệt bùn đen sẫm. Nhưng trong trí nhớ tôi, sông Tô Lịch vẫn trong xanh, khi có mưa rào đầu hạ thì nước lên, có người ra kéo vó bè ở cửa cống Đõ, cống đường Thành, có cụm bèo sen trôi và trẻ con bơi đùa inh ỏi. Ông trưởng Bưởi lại đem vó ra thả chỗ cầu Dừa