Khôi phục địa vị của KGB
Sau khi vừa trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô, Breznhev đã tìm lý do thay lãnh đạo KGB. Ông lo ngại Semichastry – Chủ tịch đương nhiệm KGB là người luôn chủ động và quyết đoán, có mối quan hệ rộng với các đoàn viên Comsomon trước đây trong khi Andropov không lãnh đạo một tổ chức đảng có tầm cỡ lớn nên không có sự ủng hộ ở trong nước và sự ủng hộ của những người đồng hương, không có các mối quan hệ và đội ngũ đoàn kết đứng đằng sau. Andropov là sự đối lập hoàn toàn với Semichastny đã lọt vào tầm ngắm của Breznhev.
Tháng 3/1967, sự kiện con gái của Stalin là Svetlana Allilueva đang ở Ấn Độ đề nghị được cư trú chính trị ở Mỹ chính là thời cơ để Breznhev thực hiện ý đồ của mình. Breznhev viện dẫn ra sự yếu kém trong công tác tình báo, đặc tình của KGB để ngay lập tức khiến loại bỏ Semichastny và phê chuẩn ngay Andropov làm Chủ tịch KGB. Sau một tháng được đề bạt, ngày 20/6/1967, tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, Andropov được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị.
Ngay khi nhậm chức, Andropov phát hiện ra tình hình bất ổn trong công việc được phó thác cho ông. Thời kỳ Khrusev, bộ máy an ninh bị thu hẹp, Selepin và Semichastny đã giải thể các cơ quan an ninh ở những nơi không có và không thể có gián điệp nước ngoài, ở những nơi không có các công trình quân sự cần được bảo vệ.
Trong báo cáo gửi Breznhev, Iuri Andropov viết: "Sau khi thành lập Ủy ban An ninh Quốc gia trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tháng 3/1954, các đơn vị Phản gián, đặc biệt là ở địa phương, đã bị tinh giảm về số lượng. Nếu tại thời điểm mới thành lập Ủy ban An ninh Quốc gia, trong ngành phản gián có 25.375 nhân viên, thì tại thời điểm này chỉ có 14.263. Cũng vào thời điểm trước năm 1954, các đơn vị nghiệp vụ phản gián được thành lập ở trên tất cả các đơn vị hành chính của cả nước. Còn hiện nay, nếu lấy ngày 25/6/1954 làm mốc thì cả nước có 3.300 đơn vị hành chính, song chỉ có 734 đơn vị nghiệp vụ phản gián. Như thế, ở nhiều vùng trong cả nước, ngành phản gián không có đơn vị chân rết".
Ngày 17/7/1967, Bộ Chính trị đã đồng ý với đề nghị của Andropov: "Cho phép Ủy ban An ninh Quốc gia trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô trong năm 1967 được thành lập bổ sung thêm 2.000 đơn vị An ninh Quốc gia ở các thành phố và các khu vực. Việc đổi tên các đơn vị An ninh Quốc gia được ủy quyền ở các thành phố và các vùng thành Phòng An ninh Quốc gia cấp thành phố - vùng là hợp lý".
Trong cùng ngày, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kosyghin đã ký quyết định bí mật của chính phủ quy định: "1. Tăng biên chế các cơ quan của KGB lên 2.250 người, trong đó có 1.750 sĩ quan và 500 hạ sĩ quan công nhân viên. Trong số đó, mỗi bộ máy ở trung ương được tăng thêm 100 người; 2. Bổ sung cho KGB 250 xe ôtô loại nhỏ, trong đó mỗi bộ máy ở trung ương được bổ sung 10 xe".
Andropov đã lấy lại được cho KGB đặc quyền của ngành an ninh, bù đắp những thiệt hại do hậu quả của thời Khrusev để lại, khôi phục lại quân số và sau đó tăng cường bộ máy. Ủy ban An ninh Quốc gia tìm lại được quyền lực bí mật đã bị mất trước kia. Trước thời Andropov, KGB đã là Ủy ban An ninh Quốc gia trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Andropov đã nâng địa vị của Ủy ban lên cấp Quốc gia.
Ngày 5/7/1978, Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên Xô đã có chỉ thị nêu rõ: "Ủy ban An ninh Quốc gia trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô nay không phải trực thuộc chính phủ nữa. Địa vị của nó đã được nâng cao và được gọi là Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô. Các đơn vị An ninh Quốc gia ở dưới địa phương được gọi là Sở theo vùng và tỉnh. Chỉ thị của KGB trở thành chỉ thị bắt buộc các cơ quan trong toàn quốc phải thực hiện".
Andropov khôi phục lại tất cả các khâu An ninh Quốc gia ở dưới địa phương mà trước đây, những người tiền nhiệm của ông đã giải tán. Ông cũng cho khôi phục các phòng An ninh Quốc gia ở các doanh nghiệp lớn và trong các trường đại học.
Công tác cán bộ là then chốt của thành công
Năm 1975, Hội đồng lãnh đạo của KGB đã xem xét vấn đề các sĩ quan đặc biệt làm việc trong các đơn vị bộ đội tên lửa chiến lược. Andropov đồng ý với đề nghị tăng thêm một cấp hàm cho các chỉ huy đơn vị đặc biệt trong bộ đội tên lửa và cho các cán bộ nghiệp vụ. Như vậy, các sĩ quan đặc biệt sẽ có cấp hàm cao hơn các sĩ quan tên lửa. Về sau, vấn đề này cũng được áp dụng cho các cán bộ phản gián quân sự phục vụ trong các đơn vị tàu ngầm của hải quân.
Thời Andropov, quân hàm cấp tướng trong KGB được phát triển nhiều nhất. Bộ máy quản lý cũng được phát triển. Tháng 11/1978, KGB bổ sung thêm 3 phó chủ tịch: Kryuchkov - phụ trách công tác tình báo, Grigory Grigorenko - phụ trách công tác phản gián và Vasili Lezepekov - phụ trách công tác cán bộ. Tháng 2/1982, Philip Bobkov được đề bạt làm Phó chủ tịch KGB.
Trong hệ thống phản gián quân sự, hầu hết các chức vụ trưởng phòng đều được phong quân hàm cấp tướng, điều này trong thời kỳ chiến tranh cũng không có. Bốn phó của Andropov mang quân hàm đại tướng. Ngay cả trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại, không phải tất cả các tướng lĩnh đều được phong quân hàm thống soái này. Điều đó chứng tỏ Leonid Ilich Breznhev hoàn toàn tin tưởng vào Andropov. Nhất là ông lại đưa một nhóm tướng lĩnh vào cương vị lãnh đạo KGB. Những người này có thể gặp trực tiếp báo cáo Tổng Bí thư tất cả những gì xảy ra trong KGB. Họ cũng chăm sóc Iuri Andropov - người chỉ huy của mình và chăm sóc lẫn nhau. Chính vì thế, Tổng Bí thư Breznhev được KGB bảo đảm an toàn.
Người cộng sự thâm niên của Andropov là ông Vladimir Aleksandrovich Kryuchkov đã trở thành người đứng đầu Ban Thư ký của Chủ tịch KGB. Ông làm việc với Andropov khi còn ở Sứ quán Liên Xô tại Budapets. Khi Andropov nhậm chức Chủ tịch, Kryuchkov cũng về KGB chỉ sau hai ngày. Bốn năm liền ông là trợ lý của Andropov. Ngày 9/8/1971, Kryuchkov chuyển sang ngành tình báo. Andropov cử ông làm Phó tổng cục trưởng Thường trực Tổng cục Tình báo.
Cuối tháng 12/1974, Breznhev đã đồng ý với đề nghị của Andropov đề bạt Vladimir Aleksandrovich Kryuchkov lên Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo, đồng thời là Phó chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia Liên Xô. Họ đã cùng làm việc với nhau 17 năm.
Tháng 5/1971, Andropov đã chọn Viktor Vasilievich Sarapov làm trợ lý. Sarapov là nhà nghiên cứu Trung Quốc và đã 10 năm làm việc ở báo Sự thật. Cũng như Paven Laptev, năm 1982 Thiếu tướng Sarapov đã cùng với Andropov chuyển về làm việc ở Trung ương Đảng. Sau khi Andropov qua đời, Sarapov là trợ lý về các nước XHCN cho Chernenko và cho cả Gorbachev.
Tháng 3/1988, Sarapov được cử sang làm Đại sứ ở Bungari.
Andropov đã làm thay đổi về thực chất toàn bộ lãnh đạo của Ủy ban, trong đó có cả Cục trưởng Cục 9 là đơn vị bảo vệ riêng cho Tổng Bí thư và Bộ Chính trị. Cục trưởng Cục 9 dưới quyền điều khiển trực tiếp của Tổng Bí thư, nhận các chỉ thị của Tổng Bí thư và trong phạm vi mình phụ trách sẽ thông báo cho Chủ tịch KGB. Trung đoàn Kremli dưới quyền điều khiển của Cục trưởng Cục 9.
Tăng cường cán bộ của Đảng trong hàng ngũ Lãnh đạo ủy ban
Ngày 21/7/1967, Bí thư thứ hai Tỉnh ủy Dnhepropetrovsk thuộc Đảng Cộng sản Ucraina là Viktor Nikhailovich Chebrikov được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Cán bộ KGB. Chebrikov sinh ra ở Dnhepropetrovsk nên được coi là người của Breznhev. Ở cương vị của mình, Andropov cần tới nhiều cộng sự với nhiều trình độ và địa vị khác nhau. Song nếu lấy ví dụ Chebrikov và Kryuchkov thì có thể hiểu rằng Andropov đã đánh giá phẩm chất là cao hơn tất cả.
Ở cả hai con người trên, đều có cái chung là lòng trung thành và kỷ luật chấp hành nhiệm vụ. Xung quanh Andropov có nhiều bộ óc thông minh, có nhiều nhà trí thức sáng giá nhất và có nhiều nhà chuyên môn cừ khôi nhất, song ông vẫn chọn Chebrikov và Kryuchkov vào vị trí hàng đầu.
Tất cả các cán bộ lãnh đạo Cục Cán bộ đều nguyên là cán bộ của Đảng, thêm vào đó, đều nguyên là Bí thư thứ hai. Chính vì thế mà họ làm tốt công tác tổ chức cán bộ. Đó cũng là một trong các biện pháp kiểm tra của Đảng đối với lực lượng An ninh. Những cán bộ của Đảng được cử sang công tác ở KGB là những người ở ngoài ngành an ninh, họ cần phải được xem xét những gì đang diễn ra trong hệ thống An ninh Quốc gia.
Ra đời Cục Đấu tranh chống phá hoại tư tưởng
Nhằm nắm bắt kịp thời và chính xác tất cả mọi diễn biến đã và đang xảy ra trên đất nước, Andropov đã mở rộng mạng lưới các cơ quan an ninh ở địa phương và thành lập một số cục mới ở cấp trung ương. Ông cũng xác định công tác kiểm tra tình hình tư tưởng của xã hội là một khâu công tác chủ đạo. Kinh nghiệm ở Hungari đã cho ông thấy, thoái hóa tư tưởng là một mối nguy hại cho xã hội.
Sau 45 ngày, kể từ khi rời Cơ quan Trung ương Đảng về Cơ quan KGB, ngày 13/7/1967, Andropov đã gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Trung ương phác họa những hành động của các lực lượng phá hoại "lập ra những nhóm bí mật chống Liên Xô, nhen nhóm xu thế dân tộc chủ nghĩa, hồi phục hành vi chống đối của các tu sĩ và giáo phái". Andropov đề nghị thành lập trên trung ương và dưới địa phương những đơn vị để tập trung đấu tranh với các âm mưu phá hoại tư tưởng.
Ngày 17/7/1967, Bộ Chính trị đã ủng hộ đề nghị của Andropov: "Thành lập Cục 5 (Cục Đấu tranh với các âm mưu phá hoại tư tưởng) trong KGB. Về tổ chức, Cục 5 là đơn vị phản gián đấu tranh với những âm mưu phá hoại tư tưởng của địch. Các đơn vị thuộc các nước cộng hòa, ở các địa phương như cấp tỉnh, vùng, sẽ có những đơn vị cấp phòng ban tương ứng của Cục 5". Ông Aleksandr Phedorovich Kadasev, Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Liên Xô tỉnh Stavropolsk với học hàm Phó tiến sĩ Khoa học xã hội, được cử làm Cục trưởng Cục 5. Thiếu tướng an ninh Philip Denhisovich Bobkov được cử làm Phó thứ nhất của Kadasev.
Kadasev không thích ứng trong hệ thống An ninh Quốc gia và sau hơn một năm, Kadasev đã đích thân đề nghị bố trí cho ông công việc khác. Tháng 5/1959, Philip Bobkov được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục 5. Ông làm việc nhiều năm trong cục và dần dần trở thành Phó chủ tịch thứ nhất KGB, mang hàm Đại tướng. Nhiệm vụ thường xuyên của Cục 5 là nghiên cứu, phân tích các vụ án xảy ra trong xã hội, cố gắng giải quyết những vấn đề phức tạp nhất của xã hội liên quan đến lĩnh vực tư tưởng.
* Trích trong cuốn "Yuri Andropov, hy vọng cuối cùng" - NXB CAND 2012