Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh

Đêm 9/9/1966, có một chàng trai chưa tròn 16 tuổi, từ biệt cha mẹ, ông nội  và làng Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên để cùng những người bạn đồng liêu là các anh Hoàng Xê, Hồ A… tìm đường lên chiến khu tham gia kháng chiến, gia nhập vào Đại đội An ninh vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên. Trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc trên mặt trận Thừa Thiên, anh đã cùng với những đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "xuất quỷ nhập thần" làm cho quân lực Hoa Kỳ và binh sĩ quân đội Sài Gòn nhiều phen kinh hồn, bạt vía…

Kẻ thù từng xem anh là "tên an ninh Việt Cộng đặc biệt nguy hiểm" và đã nhiều lần đưa ảnh chân dung của anh lên mục cáo thị để treo giá trọng thưởng bằng tiền cho bất cứ ai bắt sống hoặc tiêu diệt được anh (Theo hồ sơ của Cảnh sát đặc biệt chế độ Sài Gòn để lại - NV). Chàng trai lớn lên từ đất làng Phò Ninh ấy tên là Hồ Xuân Mãn - một người đã đi qua chiến tranh với 33 lần được phong dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu "Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường".

Sau này, trong công cuộc dựng xây quê hương, đất nước, ông là Ủy viên Trung ương Đảng, 2 nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Một ngày cuối năm se lạnh ở làng Phò Ninh, trên bậc thềm của ngôi nhà hương hỏa của gia đình, tôi có dịp ngồi đối diện cùng ông để được nghe ông kể thật nhiều những câu chuyện của tuổi thơ nghèo khó, những năm tháng tham gia kháng chiến vào sinh ra tử rồi thời kỳ hậu chiến vất vả, kiến thiết xây dựng quê hương và cả những được mất, buồn vui của một đời người…

Ông kể rằng, khi mình lớn lên, biết suy nghĩ mới thấy những người thân của mình, bà con làng xóm của mình đã bao năm phải chịu đựng dưới nhiều tầng áp bức của chế độ đương thời. Được giác ngộ bởi chính những người thân trong gia đình đã tham gia cách mạng trước đó, cùng với bầu máu nóng của lớp người trẻ tuổi, vậy là ông cùng với những người bạn đồng liêu trong làng quyết định ra đi. Ông kể, ngày đó quyết tâm lên rừng theo cách mạng nhưng chưa thấu tỏ cách mạng là gì hết.

Đêm hôm ấy ra đi cùng với Hoàng Xê, Hồ A và một người bạn nữa tên là Hoàng Nãi, nhà ở cạnh nhà ông. Nhưng khi đến giờ hẹn để lên đường thì anh Nãi bảo rằng đi bộ đội chủ lực xa nhà quá, thôi thì để anh ở lại đi du kích địa phương, vậy là chỉ còn lại ba anh em lặng lẽ tìm đường đến điểm hẹn có người đưa lên chiến khu trong đêm tối. Hành trang lên hậu cứ cách mạng của Hồ Xuân Mãn ngày ấy chỉ có một chiếc võng, một chiếc dù của ông nội tặng, mẹ ông mua cho đôi dép mới, hai bánh đường đen với hai lon đậu huyết (đậu đỏ - NV) của gia đình trồng được.

Đúng giờ hẹn, giao liên có mặt để đưa ba anh em lên đường. Từ Phong An đi lên hướng xã Phong Sơn, vượt dốc Ba Trục ở chỗ khu du lịch nước khoáng Thanh Tân bây giờ, rồi luồn rừng đi mất một đêm hôm đó với gần một ngày hôm sau mới đến chiến khu. Đến nơi, ba anh em nhìn nhau rơm rớm nước mắt vì trước lúc đi ai cũng nghĩ rằng ở vùng Cách mạng cũng có nhà, có xe, có mọi thứ chứ cả ba người không ai hình dung được cách mạng lúc ấy chỉ là vài cái lán nhỏ bằng tranh tre nứa lá được dựng chênh vênh bên cạnh bờ suối ở trong rừng già, xung quanh chỉ toàn là những thứ âm thanh lạ kỳ của chim kêu, vượn hú…

Chiều hôm ấy, cả ba người được các chú, các bác trong hậu cứ nấu cơm cho ăn, ăn cơm xong thì cả ba người ngồi ôm nhau khóc vì nhớ nhà. Thỉnh thoảng nghe từ phía bờ suối vọng lên tiếng kêu quép… quép… của mấy con ếch ương, hỏi mấy ông cán bộ con gì kêu, mấy ông cán bộ bảo đó là tiếng kêu của cọp. Nghe đến đó là cả ba người hoang mang đến tột độ. Ngày hôm sau, cấp dưỡng nấu cơm nhưng cả ba đều ủ ê nằm khóc, không một ai dậy ăn cơm mà nằm bàn với nhau "thôi thì trốn về quê đi du kích, chứ ở giữa rừng già này thì biết làm sao…".

Bước qua ngày thứ ba ở rừng thì anh Vân (người quê gốc ở Hải Phòng do Bộ tư lệnh Công an vũ trang chi viện vào làm Đại đội trưởng, anh Minh Chính trị viên; anh Lợi người ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên là Đại đội phó) gọi ba người dậy để động viên, anh Vân nói: "Nếu mấy chú muốn về thì các anh cho về, nhưng bây giờ không có giao liên nên các chú phải tự đi, cái khó là bây giờ mấy chú đi ra là cọp nó chụp liền, chết mà không toàn thây vì bị cọp ăn thì cũng khổ…". Nghe xong, cả ba nhìn nhau rồi bằng lòng ở lại. Ở hậu cứ được chừng một tuần lễ thì cả ba anh em bắt đầu bị sốt, nằm liệt gần một tháng trời, đứa nào cũng xanh xương, vàng da, trên đầu rụng không còn lấy một sợi tóc.

Ông Mãn nhớ lại, nằm trong lán vật vã phải hơn một tháng sau mới khỏe, khi thấy đã quen với đời sống núi rừng thì các đồng chí lãnh đạo mới cho đi huấn luyện. Lúc đó, mỗi đứa được phát một cây súng K44 (loại súng bỏ từng viên đạn rất to rồi lắc để bắn), ôm cây súng trên tay mà nước mắt chảy dài vì cây súng ấy dựng lên đã cao hơn mình một đoạn. Những ngày ấy ở chiến khu, anh em trẻ như ông chủ yếu là được đơn vị cho đi bảo vệ mục tiêu lúc đó là cơ quan tỉnh ủy, rồi đi tuần xung quanh khu vực đóng quân.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Hồ Xuân Mãn.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Hồ Xuân Mãn.

Nhấp một ngụm trà đang tỏa hương ngào ngạt, ông Mãn kể tiếp: Cho đến bây giờ ông vẫn không thể nào quên được cái buổi chiều đầu tiên trong cuộc đời mình nhìn thấy máu chảy. Đó là một buổi chiều đầu năm 1966, sau khi Tiểu đội bảo vệ của ông được giao nhiệm vụ đi bảo vệ Đại hội thi đua của tỉnh trở về, trên đường về thì gặp trời mưa, với lại anh em tranh thủ dọc đường hái măng giang để mang về cải thiện đời sống nên áo quần người nào cũng bẩn. Vừa về đến lán trại của đơn vị, để súng đạn và số măng giang hái được ngổn ngang trên sàn là anh em lao ngay xuống suối tắm.

Tắm xong thì anh Thành quê ở xã Quảng Điền (nay còn sống ở Quảng Điền - NV) lên trước ngồi lau súng, tiếp đó anh em theo lên nhưng còn lại một người là anh Huề quê ở xã Phong Sơn là Tiểu đội trưởng mà không ai hay biết. Vừa ngồi lau súng, anh Thành vừa hỏi "còn đứa nào dưới suối không? Cũng chẳng thấy ai trả lời nên anh Thành thử siết cò thì bỗng dưng súng nổ. Từ dưới suối, anh Huề la toáng lên: "Chết rồi tụi bây ơi…tao gãy chân rồi…".

Hoảng hốt, tất cả anh em đều chạy ào xuống suối và thấy anh Huề đang quằn quại với cái chân đầy máu. Hôm đó, sau khi anh em lo băng bó, chữa thương cho anh Huề xong thì phải lo giải quyết những bức xúc của mấy anh em là người dân tộc thiểu số trong cùng tiểu đội. Cù Mi, Cù Đức và Cù Toản vì quá thương tiểu đội trưởng Huề mà cho rằng anh Thành là người theo địch và vì theo địch nên mới vác súng bắn Tiểu đội trưởng Huề.

Để trả thù cho Tiểu đội trưởng Huề, Cù Mi đã đi tìm anh Thành để trả thù. Đêm đó, mọi người phải đem anh Thành đi giấu ở một nơi bí mật và rạng sáng hôm sau thì đến gõ cửa cơ quan tỉnh ủy để báo cáo sự việc và xin chuyển công tác cho anh Thành về đó làm giao liên.

Suốt cả năm 1966, ông cùng đơn vị hoạt động ở vùng rừng núi ở Khe Trái, phải đến đầu năm 1967 thì mới được cấp trên cho phép về hoạt động ở vùng đồng bằng. Nhiệm vụ lúc ấy của an ninh vũ trang là xuống các xã của huyện Phong Điền, Hương Trà để phối hợp với các lực lượng "diệt ác, phá kìm", mở rộng vùng giải phóng, nới rộng dần phạm vi hoạt động. Cũng năm này, lần đầu tiên mới chính thức đụng độ với lính bộ binh của Mỹ. Ông Mãn kể, hôm ấy trung đội của ông nhận nhiệm vụ chống càn với một đại đội lính biệt kích Mỹ tập kích vào hậu cứ.

Theo phân công, cứ hai đồng chí của ta chịu trách nhiệm tiêu diệt một lính Mỹ, kế hoạch là bí mật phải đợi đến khi mục tiêu cách điểm phục kích 50 mét mới được siết cò súng. Lần đầu tiên đánh Mỹ, không riêng gì ông Mãn mà hầu hết anh em trong trung đội với vũ khí khá lạc hậu chủ yếu là súng bán tự động, súng K50, K43 Tuyn cải tiến từ chiến tranh chống Pháp còn lại, đều thấy hoang mang khi nhìn thấy đại đội lính Mỹ to lớn, kềnh càng súng đạn dàn hàng ngang tiến vào đội hình.

Y lệnh trên, khi thấy mục tiêu đã vào địa điểm cho phép là anh em đồng loạt bóp cò, sau đó rút nhanh để đề phòng phi pháo và bảo toàn lực lượng. Tổng kết trận đó, trung đội ông đã tiêu diệt 14 lính Mỹ. Anh em rất phấn khởi vì tin tưởng một cách chắc chắn rằng là mình đánh được Mỹ (trước thời điểm ông Mãn đánh Mỹ thì ở chiến trường Quảng Nam và các đơn vị du kích cũng như chủ lực của ta ở chiến trường Thừa Thiên cũng đã đánh Mỹ - NV). Từ đó, cứ theo năm tháng đánh địch, Đại đội An ninh vũ trang đa số anh em đều rất có kinh nghiệm và dạn dày trận mạc.

Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị chỉ để lại một đại đội làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu ở hậu cứ, số còn lại được tăng cường để nâng cấp thành Tiểu đoàn Trinh sát vũ trang do ông Hải làm Tiểu đoàn trưởng (tiểu đoàn này sau được phong Anh hùng lực lượng vũ trang, hiện có các ông Lê Việt Hà, Bạch Hiền, Phê "điếc", Điệp "đui", Bạn… hiện đang sống tại Huế). Tiểu đoàn trinh sát này được trang bị hỏa lực rất mạnh (cứ 3 người có một khẩu B40, 2 khẩu AK báng gấp) để đánh luồn sâu vào nội thành và chuẩn bị cho cuộc tiến công.

Lúc bấy giờ, Đại đội An ninh vũ trang được bố trí một trung đội ở lại bảo vệ hậu cứ, một trung đội phối hợp với lực lượng An ninh Hương Trà bảo vệ trại giam, tiếp nhận tù binh và tài liệu, một trung đội phối hợp với các lực lượng chiến đấu vào thành phố Huế. Trung đội này chia thành 2 nhóm, một nhóm đi cùng với bộ đội chủ lực và trinh sát vũ trang để tiếp quản, vận chuyển tài liệu và dẫn giải tù binh, đặc biệt là loại tình báo, gián điệp. (Các đồng chí làm công tác dẫn giải tù binh đa số là anh em người đồng bào dân tộc như: đồng chí Cu Mi, Cu Đích, Cu Pả…).

Nhóm của ông Mãn đi theo Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 do đồng chí Khảm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khả Phiêu (sau này là Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng) làm Chính ủy. Vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, trinh sát, dẫn đường, vận động nhân dân tiếp tế lương thực. Ông Mãn bảo rằng, chiến dịch Mậu Thân năm 1968 với đồng chí Lê Khả Phiêu có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Tỷ dụ như chuyện anh em tìm được đồng chí Quốc Bảo bị thương nặng nằm sót lại ở Cửa Đông Ba (nay anh Bảo còn sống và làm kinh doanh).

Nhớ nhất là chuyện, sau khi cả tổ dẫn  Trung đoàn 9, kể cả thương binh ra vùng giải phóng, vừa đi vừa đánh nhau với Sư đoàn Kị binh Không vận số 1 của địch. Lên đến vùng A Lưới, súng mỗi khẩu chỉ còn một ít đạn, 1 đồng chí lại vác từ 2 đến 3 khẩu (vì còn phải cáng thương binh), bộ đội không đi nổi vì thiếu lương thực, xin đồng bào dân tộc cũng không có nhiều.

Đồng bào và du kích địa phương nói rằng: Bộ đội cần sắn để ăn, mình cần súng để đánh Mỹ, hay là bộ đội đổi cho mình? Lúc bấy giờ, đồng chí Lê Khả Phiêu đồng ý, cứ mỗi khẩu CKC là 3 gùi sắn, nhờ thế bộ đội có cái ăn để hành quân đến vùng giáp với biên giới Việt - Lào. Sau này, mỗi lần gặp lại đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí ấy bảo rằng "vụ lấy súng đổi sắn hồi Mậu Thân suýt nữa thì bị Quân khu kỷ luật, nhưng sau khi nghe mình phân tích có lý, có tình nên Quân khu lại hoan nghênh…". 

(Còn nữa)

Phan Bùi Bảo Thy

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.