Ai bày mưu cho vua Tự Đức đòi nhà Thanh làm lễ tuyên phong ở Phú Xuân?

Thời nhà Nguyễn, các vua đầu tiên từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị tuy đóng đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay), nhưng đều phải ra Thăng Long để làm nghi lễ bang giao, nhận tuyên phong của nhà Thanh. Phải đến khi vua Tự Đức lên ngôi, nghi lễ này mới được chuyển vào Phú Xuân, trở thành một thắng lợi ngoại giao lớn của triều đình Đại Nam.

Thắng lợi này có công lớn của vị đại thần là Nguyễn Đăng Giai. Nhờ công đó, Nguyễn Đăng Giai được Vua Tự Đức và triều đình khen thưởng lớn.

Trước đó, Vua Gia Long sau khi lên ngôi năm 1802, đến năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà vua mới ra Thăng Long nhận lễ tuyên phong của sứ nhà Thanh. Lúc đó, Vua Gia Long đề nghị xưng quốc hiệu Nam Việt, nhưng nhà Thanh cho rằng sợ nhầm với nước Nam Việt thời Triệu Đà, nên đề nghị đổi quốc hiệu là Việt Nam. Cũng như các triều Lý, Trần, Lê, Hồ, Mạc, các vua Việt Nam sau khi được sứ thần Trung Quốc tuyên phong thì đều được vua Trung Quốc ban cho những chiếc ấn quốc vương, như thời Lê về trước đúc chữ “Đại Việt quốc vương chi ấn”. Thời Nguyễn, Vua Thanh Nhân Tông (Gia Khánh) ban cho Vua Gia Long chiếc ấn đúc chữ “Việt Nam quốc vương chi ấn”.

kinh thành hu- (phú xuân) c-a các vua tri-u nguy-n.jpg -0
Kinh thành Huế (Phú Xuân) của các vua triều Nguyễn.

Theo sử sách, chiếc ấn này có hình vuông, mỗi cạnh 111mm, dày khoảng 27mm, bằng bạc mạ vàng, nặng 5,9 kg, tay nắm tạc hình con lạc đà ở tư thế ngồi. Chiếc ấn này chỉ được triều đình Việt Nam dùng để đóng vào các bức quốc thư gửi sang giao thiệp với nhà Thanh chứ không dùng để đóng vào các văn bản đối nội. Tuy nhiên, sau khi quân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, bắt triều đình nhà Nguyễn phải thần phục và ký hiệp ước Patenotre (còn gọi là Hiệp ước Giáp Thân, năm 1884), các đại diện của Pháp như các quan Toàn quyền, Khâm sứ đã bắt các quan triều Nguyễn đem chiếc ấn đó đem nấu chảy ra, đúc thành khối bạc để xác nhận nước ta đã nhận nước Pháp là nước bảo trợ, không làm phiên phục nước Thanh nữa.

Vua Minh Mạng sau khi lên ngôi, vào năm thứ hai (1821), cũng ra Thăng Long thực hiện nghi lễ này. Sau đó, vào năm 1839, Vua Minh Mạng đã quyết định đổi quốc hiệu nước ta thành Đại Nam. Vua Thiệu Trị cũng vậy, sau khi lên ngôi, vào năm thứ hai (1842), nhà vua “ngự giá Bắc tuần” ra Thăng Long và nhận lễ tuyên phong của sứ thần nhà Thanh.

Vua Thiệu Trị qua đời tháng 11 năm Đinh Mùi (1847). Ngay sau đó, theo di chiếu của cố hoàng đế, triều thần tôn hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm lên ngôi, mà không phải hoàng tử cả Hồng Bảo. Tháng Chạp năm đó, tân vương lấy Hữu tham tri bộ Hình là Bùi Quỹ sung làm Chánh sứ sang nước Thanh, Lễ bộ Hữu thị lang là Vương Hữu Quang, Quang lộc tự khanh (nguyên sung Sử quán Toản tu) là Nguyễn Du làm Phó sứ, đi sang báo với nhà Thanh việc quốc tang (tức Vua Thiệu Trị băng hà). Sau đó, nhà vua sai phái quốc thư giao cả cho sứ bộ ấy đệ sang, để xin nhà Thanh sai sứ đến kinh đô, cử hành lễ lớn về việc bang giao, tuyên phong cho vua nối ngôi. Việc này, theo sử nhà Nguyễn, “đó là theo lời tâu xin của hai vị đại thần Nguyễn Đăng Giai và Tôn Thất Bật”.

Ai bày mưu cho vua Tự Đức đòi nhà Thanh làm lễ tuyên phong ở Phú Xuân? -0
Tháp Hòa Phong xưa, một trong những công trình do đại thần Nguyễn Đăng Giai đề xuất và xây dựng.

Theo “Truyện Nguyễn Đăng Giai” trong bộ “Đại Nam liệt truyện”, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chép rằng: “Khi ấy, vua mới lên ngôi, sai sứ sang nước Thanh cầu phong. Đăng Giai dâng sớ nói: Phép của tiên vương, phàm có nước tất có đô thành, triều kiến hội đồng, giảng điều tin, sửa điều hòa mục, không gì là không làm ở đấy, là để cho vững cội gốc của nước, trọng phong hóa của nhà vua để bớt sự khó nhọc cho người mà đỡ phí hao”.

Bộ sử “Đại Nam thực lục”, Tập 3, Chính biên, Nhị tập - Thực lục về Dực Tông Anh Hoàng đế (tức Vua Tự Đức), cũng do Quốc sử quán biên soạn, chép tiếp nguyên văn lời tâu của Nguyễn Đăng Giai về lý do việc xin chuyển lễ bang giao về Phú Xuân rằng: “Nước ta từ nhà Lê trở về trước, quốc hiệu gọi là An Nam, đóng đô ở Thăng Long, cho nên lễ bang giao của các triều đều thi hành ở đấy cả. Đó là chính lý, Liệt thánh hoàng đế ta dựng mở cõi Viêm Bang (ý nói các chúa Nguyễn mở mang cõi Đàng Trong), nguyên cùng với nước An Nam riêng làm một nước. Thế tổ Cao hoàng đế ta (tức Vua Gia Long), cõi bờ thống nhất, đóng đô ở Phú Xuân.

Buổi đầu trong nước dẹp yên, thông hiếu sang nhà Thanh, trước hết cải chính quốc hiệu, gọi là nước Việt Nam, đô ấp đều mới, không còn như Đinh, Lý, Trần, Lê cũ nữa. Thăng Long ở nhà Lê làm Đông Đô, ở ngày nay là một tỉnh thành, việc khác thế khác, người Thanh sao được giữ chỗ ấy để ấn định làm nơi bang giao. Huống chi, Kinh sư là nơi căn bản trọng địa, nghìn dặm tuần du, không khỏi không lo về sự xảy ra bất ngờ. Lần này việc bang giao xin phát thư cho sứ bộ đệ đi, cốt khẩn xin sứ nước Thanh về Kinh làm lễ là tiện”. Sau đó, Tổng đốc Hà -  Ninh Tôn Thất Bật cũng nối tiếp trình bản tâu với nội dung như thế.

Ai bày mưu cho vua Tự Đức đòi nhà Thanh làm lễ tuyên phong ở Phú Xuân? -0
Phố mang tên Nguyễn Đăng Giai tại Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.

Theo “Đại Nam liệt truyện”, thì lúc đó, Nguyễn Đăng Giai giữ chức Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang). Ngay sau đó, vào đầu năm Tự Đức thứ nhất (1848), Nguyễn Đăng Giai được thăng chức Thự Hiệp biện Đại học sĩ, triệu về triều giữ chức Thượng thư bộ Hình kiêm sung Tổng tài Quốc sử quán.

Vua Tự Đức cho việc này quan hệ đến bang giao là việc rất lớn, lại là lần đầu chưa có tiền lệ, chưa chắc nước Thanh đã nghe, nên xuống chiếu cho đình thần và các quan địa phương được vua điểm chấm son hội đồng bàn luận rồi làm bản tâu lên. Các quan đều cho rằng: “Làm lễ ở Kinh sư, ở ta có lợi vô cùng. So sánh với sự thế, cũng có thể làm được. Vì hội họp áo xiêm, tất phải ở tại kinh đô của mình đó là lễ của đời xưa. Lấy thế mà nói đối với lẽ phải cũng thuận. Mà nước Thanh cùng với bản triều ta từ trước đến giờ, việc giao tế không chút nghi ngờ ngăn trở, nay nếu lời lẽ cho khéo, lấy thành thực mà cảm người, chắc nước Thanh cũng có lẽ tất phải theo. Xin cho Lễ thần soạn sửa quốc thư, phát giao sứ bộ đệ đạt, yêu cầu sứ thần nhà Thanh thẳng một đường tới Kinh, cử hành lễ lớn. Lại dự nghĩ sẵn những lời vấn đáp, giao cả cho sứ bộ đem đi theo đó mà làm, cần sao cho lời nói đó thực hiện được thì mới có thể trọng nơi căn bản mà đỡ phiền phí, thì lợi to lắm”. Vua Tự Đức y theo lời bàn này.

Những khó khăn trong việc đề nghị nhà Thanh làm lễ tuyên phong tại kinh đô Phú Xuân đã được sử sách triều Nguyễn ghi lại chi tiết. Đầu tiên, vào thời Vua Gia Long, khi bàn định về nghi lễ bang giao giữa hai nước trong năm Gia Long thứ nhất (1802), nhà vua đã đưa thư sang Trung Quốc, đề nghị xin tiếp sứ nhà Thanh ở trên cửa ải Lạng Sơn (cửa Nam quan, tức Hữu Nghị quan ngày nay), để đỡ phiền phí. Theo “Truyện Nguyễn Đăng Giai” phân tích thì việc chưa thành bởi lý do: “Tiếc vì lúc ấy các bề tôi chưa hay thể theo ý ấy, nhân cơ hội lớn ấy làm thành một kế nghi lớn”.

Đến sau khi Vua Minh Mạng lên ngôi và chuẩn bị ra Thăng Long nhận lễ tuyên phong, cũng từng có lời dụ rằng việc “bỏ nước đi tuần xa thì ở chỗ đất căn bản quan trọng há không có sự lo ngại không ngờ ư?".

Theo các quan đại thần ở triều Vua Tự Đức, thì việc thực hiện lễ bang giao ở Kinh sư, “thì ở ta có lợi vô cùng, mà ở người có lẽ tất phải theo, không có gì đáng ngờ nữa”. Các quan cũng tự tin cho rằng, “vả lại, nước ta là nước văn hiến, nước Thanh cũng là nước giữ lễ, theo hay không theo, coi ở lễ có nên hay không. Ta lấy lễ mà nói, thì lời rõ ràng, nghĩa chính đáng, người nước Thanh sẽ nói thế nào để chối được ư?”.

Do đó, trong Quốc thư gửi sang nhà Thanh, triều Nguyễn đã mạnh dạn xin rằng: “Từ nay về sau, sứ đoàn đến thẳng Kinh sư để làm điển lễ lớn”. Các lợi ích đạt được trong nước được kể ra rất nhiều, từ bớt được khoản tiêu phí không có hạn, đến giảm các nguy cơ mất an toàn cho vua và đoàn tùy tùng khi phải đi xa kinh thành… Sử triều Nguyễn không ghi chi tiết việc biện bạch của sứ đoàn Bùi Quỹ khi ở nước Thanh, chỉ chép rằng: “Khi tiếp được Quốc thư, sứ nước Thanh đã thuận theo. Đấy là nghĩa lớn về việc giao thiệp với nước gần bên, càng làm rạng vẻ cho quốc thể. Tuy đó là nhờ về uy linh của nước, nên sứ đoàn không đợi phải biện bạch khúc chiết”. Do đó, các viên chánh phó sứ đều được đặc cách gia ơn, mỗi viên gia thưởng một một cấp, đồng thời được hậu thưởng theo thứ bậc khác nhau. Sau đó, Vua Thanh Tuyên Tông (Đạo Quang) đã sai sứ thần là Lao Sùng Quang đến kinh đô Phú Xuân làm lễ bang giao, mọi việc đều ổn thỏa.

Sử triều Nguyễn tự khen rằng: “Làm lễ ở quốc đô lần này là lần đầu, trong đó, nghi văn nghiêm chỉnh, thể thống tôn nghiêm, cùng sự giao tế thành thực, tặng đưa ưu hậu, trước đây chưa có vậy”. Khi nghi lễ này kết thúc, Vua Tự Đức cho rằng Nguyễn Đăng Giai là người đầu tiên kiến nghị việc này, giữ được quốc thể rất nhiều, nên đã ban thưởng cho ông một đồng kim tiền có chữ "Long vân khế hội", cùng ba tấm nhiễu màu.

Lần bang giao đó cũng là lần cuối nhà Thanh thực hiện lễ tuyên phong cho vua nhà Nguyễn, vì sau khi Vua Tự Đức qua đời, quân Pháp đã xâm lược nước ta, thay thế triều đình nhà Thanh trong vai trò bảo hộ vương quốc Đại Nam.

Nguyễn Đăng Giai sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc ở Lệ Thủy, Quảng Bình. Ông nội ông là Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoàn, cha ông là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân, là người được Vua Minh Mạng sai dạy dỗ Hoàng tử Miên Tông, tức Vua Thiệu Trị sau này.

Nguyễn Đăng Giai thuở nhỏ theo học với thân phụ, năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông thi đỗ Hương tiến (cử nhân), sau đó được bổ vào làm ở Hàn lâm viện, rồi thăng Lang trung bộ Hộ. Năm 1830, ông được cử làm Tham hiệp trấn Sơn Nam, rồi lần lượt được cử làm Khảo thí trường thi Nghệ An, Bố chánh sử Thanh Hóa, có nhiều công đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở miền Bắc, trước khi được thăng làm Tổng đốc Ninh - Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên).

Mặc dù Nguyễn Đăng Giai có nhiều công lao với triều đình, nhưng ở trong triều, ông lại là người không hòa hợp với các bậc đồng liêu. Do đó, “Đại Nam liệt truyện” mới chép chuyện, khi ở Nghệ An khuyết chức Tổng đốc, các quan trong triều đều đề cử Đăng Giai đi nhậm chức ấy, nhưng ông dâng sớ xin từ chối và giải thích rằng, “đình thần bàn cử thần đi, hoặc là vì thần vốn tính ngu và thẳng, lúc ở thường nói năng không khỏi trái ngược họ, phàm việc bàn luận, trong đó có điều khác điều cùng, cho nên họ không thích với thần cùng hàng”.

Năm Tự Đức thứ 6 (1853), Nguyễn Đăng Giai được cử làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình) kiêm coi công việc ở Ninh Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên), Lạng Bằng (Lạng Sơn và Cao Bằng). Kỳ xét thưởng năm ấy, ông thưởng một cái kim khánh hạng lớn có chữ "Liêm bình cần cán". Đến mùa thu năm ấy, ông qua đời ở Hà Nội, được nhà vua khen thưởng rất hậu để nêu người trung tiết, tặng hàm Thiếu bảo, ban cho tên thụy là Văn Ý. Năm Tự Đức thứ 11, ông liệt vào thờ ở đền Hiền Lương. Các sử quan triều Nguyễn bình luận về công lao của ông: “Đọc đến những biểu chương sớ tấu của ông thì kiến thức lúc bình sinh, đầy rẫy ra ở lời nói, tuy bề tôi có danh tiếng đời xưa cũng không hơn được”.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.