Phát hiện châu bản về chủ quyền liên tục của Việt Nam với Hoàng Sa

Hai văn bản là các tờ châu bản của nhà nghiên cứu văn hóa Huế Phan Thuận An phát hiện tại phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn, con gái vua Đồng Khánh, là cô ruột của vua Bảo Đại.

Tờ châu bản thứ nhất được lập ngày 15-2 năm Bảo Đại thứ 13 (tức năm 1939), do quan Tổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Quỳnh tấu lên. 

Sau khi xem xét, vua Bảo Đại phê hai chữ “Chuẩn y” với bút phê màu đỏ và ký hai chữ “BĐ” (Bảo Đại). Nội dung của tờ châu bản ghi "Vào ngày 10-2-1939, Tòa Khâm sứ Trung Kỳ có đề nghị Nam Triều nên thưởng huy chương Long Tinh hạng 5 cho đơn vị lính khố xanh ở Trung Kỳ, vì họ đã có công trong việc dẹp loạn 'man di' ở miền núi và có công trong việc 'lập đồn phòng thủ ở Hoàng Sa'."

Tờ châu bản thứ hai ghi ngày 3-2-1939, đính kèm là văn bản bằng tiếng Pháp của Khâm sứ Trung Kỳ trình lên Nam triều.

Nội dung của tờ châu bản này như sau: "Vào ngày 2-2-1939, Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil gửi cho Tổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Quỳnh một văn thư đề nghị tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng Huy chương Long Tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan, người vừa qua đời đúng ngày hôm ấy". 

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên-Huế bàn giao châu bản thời Nguyễn liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Bộ Ngoại giao. (Ảnh: Quốc Việt/Vietnam+)
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên-Huế bàn giao châu bản thời Nguyễn liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Bộ Ngoại giao.              (Ảnh: Quốc Việt/Vietnam+)

Trước đó, ông này giữ chức vụ Chánh cai đội hạng nhất của đội lính khố xanh trú đóng tại đảo Hoàng Sa. Trong thời gian công tác tại đây, ông đã bị nhiễm bệnh sốt rét, rồi mất tại Nhà thương lớn ở Huế. Ngay trong ngày 3-2-1939, tờ phiến và bản sao văn thư này được Ngự tiền Văn phòng dâng lên vua Bảo Đại. 

Đọc xong tờ phiến và văn thư đính kèm, vua Bảo Đại chấp nhận ngay lời đề nghị, liền phê hai chữ "Chuẩn y" và ký tắt hai chữ "BĐ" bằng bút chì màu đỏ.

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, cả hai tờ châu bản này đều có giá trị về mặt lịch sử, đặc biệt là tờ châu bản thứ hai được ban cho Louis Fontan là người Pháp, ông đã bất chấp gian khổ để giữ gìn đảo Hoàng Sa.

Nhà nghiên cứu Phan Thuận An cho rằng: “Với những ngày tháng cụ thể, nhân vật cụ thể cho chúng ta thấy rằng, trước khi chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, thì chủ quyền của Việt Nam vẫn được khẳng định một cách rõ ràng trên vùng biển Đông nói chung và Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng. 

Và tất nhiên, sau khi chiến tranh chấm dứt, sau khi người Nhật đại bại trên thế giới và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thì họ trả lại cho chính quyền Đông Dương".

Nhà nghiên cứu Phan Thuận An: “Khi tôi công bố những văn bản này, chúng tôi muốn góp phần rất nhỏ chứng cứ khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Đó là điều không thể thay đổi, bàn luận, bởi vì lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng, chân xác". 

Lịch sử có giá trị bất biến, vì vậy châu bản vừa được phát hiện một lần nữa khẳng định giá trị trên. Người già làng Mỹ Lợi kể, làng được thành lập năm 1562, do các ngài khai canh, là ngư dân di cư bằng đường biển từ Bắc vào Nam, chọn mảnh đất nơi đầu sóng ngọn gió này để lập làng. Hiện làng Mỹ Lợi có diện tích 896ha với 1.400 hộ, 6.000 nhân khẩu. Đình làng Mỹ Lợi được xây dựng năm 1808, hiện là nơi lưu giữ văn bản liên quan Hoàng Sa nói trên.

Khẳng định triều Nguyễn xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với biển, đảo, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Bang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên-Huế, cho biết các vua triều Nguyễn bấy giờ đã xác lập và khẳng định chủ quyền đối với biển, đảo Tổ quốc. 

Bằng chứng là ngôi chùa có tên Hoàng Sa tự trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa là do cai đội Phạm Văn Nguyên cùng lính và phu dân hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi chuyên chở vật liệu từ đất liền ra xây dựng.

Như vậy, có thể khẳng định, triều Nguyễn đã thực thi chủ quyền Việt Nam liên tục đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng quan điểm này, tiến sỹ Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, cho rằng có thể nói, triều Nguyễn là triều đại đã vẽ nên một hình thể lãnh thổ đất nước thống nhất từ đất liền đến biển đảo để có một nước Việt Nam hoàn chỉnh hiện nay.

Biển, đảo dưới thời Nguyễn luôn được xem là một phần lãnh thổ quan trọng của đất nước. Triều Nguyễn đã ban hành và thực thi cả một hệ thống chính sách về quân sự, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế… về biển đảo nhằm bảo vệ, khai thác vùng lãnh thổ này. 

Các chính sách ấy bao gồm việc xây dựng hệ thống phòng thủ ven biển, xây dựng lực lượng hải quân, ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra, cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc.

Tại kinh đô Huế, ngoài tuyến phòng thủ từ xa và tuyến phòng thủ trung tâm trên đường bộ, triều Nguyễn còn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng hệ thống đồn lũy, cửa tấn ven biển. 

Năm 1813, vua Gia Long cho xây Trấn Hải thành ở cửa biển Thuận An (thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày nay). Đây là một pháo đài quân sự kiên cố hình tròn, chu vi 285m, cao 6,3m, dày 4m; xung quanh có hào nước sâu bao bọc, trên đắp 99 ụ súng, ngoài đóng cọc, xây kè và cho trồng 4.000 cây dừa để ngăn sóng biển.

Ngoài pháo đài này là một hệ thống đồn lũy khác bên cạnh cửa Thuận An, gồm đồn Hòa Duân, đồn Côn Sơn, đồn Hạp Châu và đập chắn Thuận An. Hệ thống đồn lũy này đều được bố trí một lực lượng lớn binh lính với các vũ khí mạnh nhất của triều Nguyễn. 

Cuối năm 1861, tại khu vực này có 1.961 binh lính, 308 đại bác các loại (đại pháo, Oanh sơn, Quá sơn, Thần công, Vũ công, Đăng uy, Thắng cơ, Chấn uy); đến những năm 1881-1882, số binh lính và vũ khí còn được tăng cường nhiều hơn nữa. 

Ngoài cửa Thuận An, triều Nguyễn còn cho xây dựng hệ thống đồn lũy phòng thủ ở các cửa biển Hải Vân, Chu Mãi (Chân Mây), Cảnh Dương và cửa Tư Hiền để bảo vệ các vùng biển quan trọng thuộc kinh đô.

PV

Các tin khác

Lo ngại hôn nhân cùng huyết thống khi việc hiến, nhận tinh trùng theo nguyên tắc vô danh

Lo ngại hôn nhân cùng huyết thống khi việc hiến, nhận tinh trùng theo nguyên tắc vô danh

Thảo luận tại tổ, sáng 21/10 về dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi), đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Minh Tuấn (Phú Thọ) quan tâm Điều 13 về điều kiện đối với người hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi, đặc biệt là quy định tại điểm c khoản 1 về việc hiến và nhận tinh trùng, hiến và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận.

Đề nghị đánh giá kỹ việc mở rộng quyền hiến mô, bộ phận cơ thể đối với trẻ em

Đề nghị đánh giá kỹ việc mở rộng quyền hiến mô, bộ phận cơ thể đối với trẻ em

Ủy ban Văn hoá và Xã hội (UBVHXH) ghi nhận mục đích nhân văn, nhân đạo của chính sách, tuy nhiên, người dưới 18 tuổi, nhất là trẻ em là chủ thể được bảo vệ đặc biệt, do đó, đề nghị tiếp tục đánh giá tác động kỹ lưỡng hệ lụy về tâm lý, đạo đức, xã hội, nguy cơ lợi dụng quan hệ phụ thuộc để tạo áp lực, cưỡng ép lấy mô, bộ phận cơ thể.

 Bài 1: Những cuộc kiếm tìm trên các triền núi cao

Bài 1: Những cuộc kiếm tìm trên các triền núi cao

Từ những triền núi từng là chiến trường đến những mái nhà cheo leo nơi vùng cao, mỗi chuyến đi thực địa, mỗi mẫu sinh phẩm được thu nhận, mỗi thông tin được xác minh đều góp thêm hy vọng để những người đã hy sinh vì Tổ quốc được “trở về” với tên tuổi, quê hương và gia đình…

Việt Nam - EU: Đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu

Việt Nam - EU: Đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu

Nhìn lại chặng đường từ ngày đầu thiết lập quan hệ ngoại giao (28/11/1990) đến nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã trải qua một hành trình phát triển ấn tượng. Từ việc EU mở Phái đoàn đại diện Ủy ban châu Âu tại Hà Nội năm 1996, đến ngày 29/1/2026 vừa qua, hai bên đã chính thức ghi dấu ấn lịch sử khi nâng cấp quan hệ lên tầm Đối tác chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa.

Dấu mốc mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam – Liechtenstein

Dấu mốc mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam – Liechtenstein

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Liechtenstein Brigitte Haas thành công tốt đẹp trên mọi phương diện, không chỉ củng cố tin cậy chính trị mà còn tạo nền tảng thúc đẩy hợp tác thực chất, nhất là trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, thương mại, đầu tư và tài chính.

Đại sứ Đan Mạch nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Đại sứ Đan Mạch nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Ngày 19/10, trang Fanpage của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam đã đăng tải video clip Đại sứ Lina Gandløse Hansen chia sẻ về ý nghĩa và tầm quan trọng đối với chuyến thăm Vương quốc Đan Mạch của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, theo lời mời của Nhà vua Frederik X.