Học giả Nguyễn Hiến Lê viết báo

Được biết đến như một học giả, nhà văn với số lượng sách dịch, biên khảo đồ sộ, nhưng Nguyễn Hiến Lê cũng là một người viết báo siêng năng và uy tín.

Chúng ta đều biết Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) vốn là công chức ngành công chính của chính quyền bảo hộ Pháp. Tốt nghiệp Cao đẳng Công chính tại Hà Nội, ông được phân công vào làm việc ở miền Nam, chuyên đi đo đạc các sông ngòi ở khắp xứ. Đến năm 1946, cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, ông tản cư về Long Xuyên, chuyển sang nghề dạy học rồi từ năm 1952, chuyển lên Sài Gòn sinh sống bằng nghề dịch sách, viết sách và xuất bản. Dù dành hết thời gian cho những cuốn sách của mình, nhưng Nguyễn Hiến Lê cũng có thời gian gắn bó rất lâu với báo chí, đặc biệt là các tạp chí, trong đó nổi bật là Bách Khoa – một tạp chí rất có uy tín với độc giả trí thức.

trang 8: Học giả Nguyễn Hiến Lê viết báo -0
Ngoài trên 120 đầu sách, học giả Nguyễn Hiến Lê còn để lại lượng tác phẩm báo chí đồ sộ.

Kể lại trong hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê cho biết, ông gắn bó với nghề báo bắt đầu từ mối giao tình với thi sĩ Bàng Bá Lân. Thi sĩ cùng tuổi với Nguyễn Hiến Lê, quê ở Phủ Lạng Thương, Bắc Giang; và cũng là đồng môn trường Bưởi như ông. Sau năm 1954, Bàng Bá Lân di cư vào Nam và làm báo Bông lúa, mỗi tháng ra một số “dày dăm bảy chục trang”. Bàng Bá Lân biết tiếng Nguyễn Hiến Lê do đọc cuốn “Luyện văn”, thấy trích dẫn mấy câu thơ của mình, sẵn nhà gần nhau nên sang thăm ông Lê và nhờ ông viết cho báo một vài bài.

“Nhân có một số tiểu luận và kịch bản đã dịch sẵn từ tiếng Anh và tiếng Pháp, tôi vô tình đưa ông đăng, hoàn toàn là giúp ông”, Nguyễn Hiến Lê kể lại trong hồi ký. “Năm 1956, tờ đó đình bản, số cuối đăng trọn bản dịch kịch “Công ty Lạc sinh” của tôi. Tờ đó bán rất ít, gần như không ai biết”.

Với tờ Bách Khoa, học giả Nguyễn Hiến Lê cộng tác ngay từ những số đầu tiên, năm 1957. Theo lời ông kể lại, sau khi tạp chí ra được hai số, bà Phạm Thị Nhiệm, phu nhân nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo nhờ nhà văn Nguyễn Hữu Ngư (bút danh Ngu Í) dẫn tới gặp ông để đặt bài, vì ông Thảo lúc đó có chân trong toà soạn. Thấy bà Thảo nhã nhặn, có học thức, mà tạp chí đó bài vở cũng đứng đắn, nên ông Lê gửi ngay bài “Edgar Poe đã sáng tác bài thơ bất hủ The Raven (Con Quạ) ra sao?”. Bài đó được đăng ngay trong số 4 ra tháng 3/1957 (tạp chí ra mỗi tháng 2 kỳ).

Sau đó, Nguyễn Hiến Lê liên tiếp có các bài về văn học, bài “Tiếng Việt ngày nay”, “Vấn đề dịch văn”, “Phép dịch thơ”, cũng được toà soạn cho đăng ngay trên các số 5, 6, 7, 8. Từ đó, lâu lâu ông gửi báo thêm một bài về Nho giáo, về danh nhân hay về văn học. Ông đều đặn cộng tác với Bách Khoa đến tận tháng 5/1975. Học giả nhận xét: “Trong lịch sử báo chí của nước nhà, tờ Bách Khoa có một địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được mười tám năm, từ năm 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong, có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị”. Tuy nhiên, chính học giả cũng nhận xét rằng tạp chí Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn trong dân chúng như Nam Phong, Phong Hoá, Ngày Nay thời trước.

Nguyễn Hiến Lê kể rằng sau ngày giải phóng 1975, nhiều học giả miền Bắc cũng nhận định Bách Khoa là một tờ báo "nghiêm chỉnh", có lập trường đứng đắn, lí luận vững, ngôn ngữ đàng hoàng. Theo thống kê của Nguyễn Hiến Lê, ông và nhà văn Võ Phiến là hai người cộng tác với Bách Khoa đều nhất, lâu nhất. “Từ đầu tới cuối Bách Khoa ra được 426 số thì 242 số có bài của tôi, bài cuối đăng trên số 424 (ra trước ngày Sài Gòn giải phóng)”.

trang 8: Học giả Nguyễn Hiến Lê viết báo -0
Nguyễn Hiến Lê không chỉ là một học giả, dịch giả nổi tiếng mà còn là một người viết báo uy tín.

Là một người viết văn, dịch sách và viết sách chuyên nghiệp, Nguyễn Hiến Lê thừa nhận: “Sự hợp tác với các báo định kì rất có lợi cho tôi. Mới đầu tôi gửi đăng bài hay chương của tôi đã viết rồi mà chưa xuất bản, về văn học, triết học, gương danh nhân; đó là một cách tự giới thiệu trước với độc giả. Sau hoặc tự ý tôi, hoặc do toà soạn nhờ viết, do độc giả gợi ý, tôi mở rộng tầm hoạt động, viết về những vấn đề không có trong chương trình trứ tác của tôi”.

Trên tờ Bách Khoa, Nguyễn Hiến Lê thường xuyên viết bài giới thiệu và phê bình sách. Cuối năm, ông lại thường viết bài tổng kết về tình hình xuất bản trong năm, có khi đăng trên Bách Khoa, có khi đăng trên tờ Tin sách. Trên Bách Khoa, Nguyễn Hiến Lê tập trung viết về chính sách giáo dục trong nước, với nhiều bài phê phán Bộ Giáo dục của chế độ Sài Gòn. Bài nào lí luận cũng vững vàng, đưa ra những chứng cứ minh bạch và một vài đề nghị xây dựng; giọng tuy nghiêm nhưng bình tĩnh, được độc giả trong giáo giới, nhất là phụ huynh học sinh khen là ý kiến xác đáng, có nhiệt tâm.

Ông cũng xác định hai loạt bài quan trọng nhất là “Cải tổ nền Giáo dục Việt Nam” (đăng liên tiếp trên năm số Bách Khoa năm 1962) mà sau ngày giải phóng, được một số nhà giáo ở Hà Nội khen là đề nghị hợp lí. Bài “Nguy cơ xuất não” (đăng trên ba số Bách Khoa năm 1972) bàn về biện pháp để khuyến khích các sinh viên du học ngoại quốc về giúp nước. Đặc biệt, trong loạt bài đăng trên Bách Khoa (1961), Tin Văn (1966), ông đả kích kịch liệt Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Viện Đại học Sài Gòn không chịu dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở đại học. Những bài đó viết vào hồi tựu trường liên tiếp trong mấy năm làm cho một số giáo sư đại học ghét ông nhưng không thể phản bác được vì lí luận của ông quá vững. “Trong đời viết văn, chưa bao giờ ngọn bút của tôi sắc bén như vậy”, học giả kể lại.

Vì Nguyễn Hiến Lê cộng tác thường xuyên với Bách Khoa từ đầu đến cuối, nên nhiều người tưởng ông là nhân viên trong tòa soạn, trong khi ông chỉ là cộng tác viên tự do.

trang 8: Học giả Nguyễn Hiến Lê viết báo -0

Cùng với một nửa số cây viết của Bách Khoa, từ năm 1960, Nguyễn Hiến Lê cũng tham gia viết giúp tạp chí Mai của ông Huỳnh Minh Tuynh, nguyên Chủ bút tạp chí Bách Khoa. Trong thời gian báo Mai tồn tại hai năm rưỡi, ra được 41 số thì ông Lê viết tới 24 bài, đa phần cũng về việc cải tổ giáo dục. Đến năm 1965, ông Lê nhận viết thêm cho tuần báo Tin Văn của ông Nguyễn Ngọc Lương, một nhân viên của Bộ Thông tin chính quyền Sài Gòn, vì thấy tờ báo có chủ trương tiến bộ, thiên tả nhưng vừa phải, kín đáo. Mãi sau ngày Sài Gòn giải phóng, ông Lê mới biết ông Lương là cán bộ nằm vùng của Mặt trận.

Tuy viết chỉ khoảng 10 bài cho tờ Tin Văn, nhưng bài nào Nguyễn Hiến Lê cũng viết kĩ và hầu hết bàn về vấn đề văn hóa, văn chương. Các bài “Bút pháp và cá tính”, “Văn chương và dân tộc tính” in trên Tân Văn năm 1968 được nhà văn Trần Thiện Đạo ở Pháp khen là tiếng nói của lương thức, “của một học giả có thẩm quyền”. Nhưng bài độc giả thích nhất, cho là có giọng bút chiến sắc bén là bài “Đả phá dễ hay xây dựng dễ” đăng ngày 15/9/1966. Trong bài đó nhân một câu của Tổng giám đốc Vô tuyến truyền hình Sài Gòn mà kịch liệt đả kích chính sách văn hóa của chính quyền miền Nam. Theo ông Lê, bài đó có tiếng vang ngang với bài “Bọn cầm bút chúng ta làm được những gì lúc này” đăng trên Bách Khoa ngày 1/12/1967 của ông.

Ngoài ba tờ báo kể trên, Nguyễn Hiến Lê còn cộng tác thêm một vài với các tạp chí Văn và Tân Văn, Phù Đổng Thiên Vương (do kịch sĩ Kim Cương làm Chủ nhiệm), đều là các bài về văn học, điểm sách. Dù chỉ góp bài khi được “khẩn khoản yêu cầu”, nhưng ông luôn giữ đúng phương châm làm việc của mình: “Đã nhận lời viết cho báo nào thì luôn luôn tôi viết kỹ và giao bài trước ngày hạn, không để họ phải nhắc”. Ông cũng khẳng định: “Trước sau tôi chỉ bỏ độ một phần mười thì giờ viết của tôi vào các bài báo, nhưng đã để hết tâm tư vào công việc đó, coi trọng nó cũng như việc biên khảo, dịch thuật, nên được nhiều cảm tình của độc giả và bạn văn. Danh và uy tín của tôi nhờ vậy tăng lên và trong những năm 1965-1974 có vài tờ báo lại phỏng vấn tôi như tờ Khởi hành, tờ Thời Tập; và một số nhà văn tư tưởng và chủ trương hoàn toàn khác tôi cũng làm quen với tôi, tặng tôi tác phẩm, không kể nhiều nhà giáo quý tôi, nhiều sinh viên trọng tôi như thầy học”.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Tìm giải pháp bứt phá cho du lịch đô thị cổ Hội An trong kỷ nguyên mới

Tìm giải pháp bứt phá cho du lịch đô thị cổ Hội An trong kỷ nguyên mới

Gần 5 triệu lượt khách đến Hội An trong năm 2025, nhưng chỉ 1,71 triệu vé tham quan được bán ra. Khoảng cách giữa sức hút của điểm đến và nguồn thu trực tiếp từ tham quan đặt ra bài toán về bảo tồn di sản, gìn giữ bản sắc và bảo đảm sinh kế cư dân, đòi hỏi Hội An đổi mới mô hình phát triển du lịch theo chiều sâu.

Khảo cổ làm sáng tỏ diện mạo Đàn tế Nam Giao triều Hồ

Khảo cổ làm sáng tỏ diện mạo Đàn tế Nam Giao triều Hồ

Đợt khai quật khảo cổ mới nhất tại Đàn tế Nam Giao thuộc Di sản thế giới Thành nhà Hồ (Thanh Hoá) đã làm rõ thêm quy mô, kết cấu và ranh giới của hai cấp nền thấp nhất trong hệ thống năm cấp nền. Những phát hiện mới góp phần củng cố nhận định về quá trình quy hoạch, xây dựng đồng bộ công trình dưới triều vua Hồ Hán Thương năm 1402, đồng thời mở ra thêm hướng nghiên cứu về kiến trúc, kỹ thuật xây dựng và tổ chức nghi lễ của vương triều Hồ.

Lãnh đạo Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lãnh đạo Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Việt Nam tặng hoa chúc mừng Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2026–2031.

Hội Mỹ thuật Việt Nam trước yêu cầu đổi mới, thích ứng với thời đại số

Đại hội đại biểu Toàn quốc Hội Mỹ thuật Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra từ ngày 14/10 đến 16/10/2026 tại Hà Nội trong một bối cảnh đặc biệt. Những biến động về cơ chế tổ chức, về nguồn lực tài chính, về phương thức hoạt động và cả những yêu cầu mới của đời sống văn hóa, nghệ thuật đòi hỏi Hội phải có một cách nhìn, một tư duy mới và một bộ máy để thích ứng.

Ngày hội áo dài, dân vũ của phụ nữ Công an Thủ đô

Ngày hội áo dài, dân vũ của phụ nữ Công an Thủ đô

Ngày hội "Áo dài - Dân vũ" là sân chơi văn hóa tinh thần ý nghĩa, đây không chỉ là dịp để tôn vinh vẻ đẹp truyền thống của tà áo dài Việt Nam mà còn là nơi thể hiện sự năng động, trẻ trung, tinh thần gắn kết của nữ chiến sĩ Công an Thủ đô. Thông qua ngày hội giúp các hội viên có thêm năng lượng tích cực để tiếp tục cống hiến và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát động thi sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài thương binh, liệt sĩ

Phát động thi sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài thương binh, liệt sĩ

Ngày 15/10, tại Hà Nội, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ phát động Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện ngắn, thơ, ca khúc) về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Biến giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế, kiến tạo sức mạnh quốc gia

Biến giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế, kiến tạo sức mạnh quốc gia

Diễn đàn quốc gia "Văn hóa với doanh nghiệp Việt Nam" năm 2026 có chủ đề: “Văn hóa kinh doanh Việt Nam – Trụ cột quan trọng chuyển hóa giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế, góp phần kiến tạo sức mạnh tổng hợp quốc gia”. Chương trình đánh dấu bước chuyển quan trọng từ xây dựng nền tảng giá trị sang tổ chức lực lượng, phát triển công cụ và thúc đẩy thực thi.

“Lời hứa” – Khi những chiến sĩ Công an kể chuyện nghề bằng điện ảnh

“Lời hứa” – Khi những chiến sĩ Công an kể chuyện nghề bằng điện ảnh

Không có những diễn viên chuyên nghiệp, câu chuyện trong phim “Lời hứa” được kể bằng chính những trải nghiệm nghề nghiệp, góc nhìn của các chiến sĩ CSGT Thủ đô. Bộ phim đặt ra vấn đề nhức nhối về tai nạn giao thông do rượu bia để từ đó gửi gắm thông điệp về trách nhiệm của xã hội, người dân và chính quyền cùng tạo dựng một xã hội văn minh, an toàn giao thông.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong phát triển văn hoá, thể thao và du lịch

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong phát triển văn hoá, thể thao và du lịch

Quảng Trị là vùng đất có bề dày lịch sử, hội tụ những giá trị đặc sắc về văn hóa, thiên nhiên và con người. Từ hệ thống di tích chiến tranh cách mạng, di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, đến kho tàng di sản văn hóa phi vật thể và bản sắc của các cộng đồng dân tộc… Quảng Trị đang khai thác và chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

Văn hóa doanh nghiệp – nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững

Văn hóa doanh nghiệp – nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, văn hóa doanh nghiệp không chỉ tạo dựng bản sắc, uy tín thương hiệu mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, góp phần nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp Việt Nam.

 Trở về miền ký ức Hà Nội

Trở về miền ký ức Hà Nội

Đêm nhạc Phú Quang – “Còn mãi một tình yêu”  diễn ra vào tối 12/10 tại Nhà hát Hồ Gươm không chỉ đưa khán giả trở về với những giai điệu đã làm nên một Phú Quang của Hà Nội, mà còn mở ra những ký ức riêng tư về người nhạc sĩ qua lời kể của bạn bè, đồng nghiệp và ba người con. 5 năm sau ngày ông rời xa, âm nhạc vẫn là sợi dây kết nối những người yêu thương, trong một cuộc hội ngộ đầy hoài niệm.

Thúc đẩy hợp tác thực chất cho điện ảnh Việt Nam

Thúc đẩy hợp tác thực chất cho điện ảnh Việt Nam

Trong khuôn khổ Liên hoan phim Quốc tế Busan lần thứ 31, ngày 11/10, tại Hàn Quốc, Hiệp hội Xúc tiến Phát triển Điện ảnh Việt Nam (VFDA) chủ trì tổ chức tọa đàm “Liên hoan phim - Cầu nối điện ảnh Việt Nam với thế giới”. Cùng với câu chuyện đưa phim Việt ra thế giới, phát triển thị trường, đào tạo tài năng và thu hút các đoàn phim quốc tế, những trao đổi tại sự kiện hướng tới các cơ hội hợp tác cụ thể, lâu dài.

Ướp hương cho phố: Lễ hội Đồ uống Hà Nội 2026 và bức tranh cuộc sống đủ đầy ở Dương Nội

Ướp hương cho phố: Lễ hội Đồ uống Hà Nội 2026 và bức tranh cuộc sống đủ đầy ở Dương Nội

Những ngày giữa tháng Mười thu dịu mát, thoang thoảng hương trà sen lan tỏa khắp Công viên Thiên văn học, nơi Lễ hội Đồ uống Hà Nội 2026 đang đưa nét thưởng thức tinh tế của đất Tràng An trở thành sản phẩm du lịch mới đặc sắc, ngay trong lòng một khu đô thị cũng được vun đắp bằng tâm huyết trong gần hai thập kỷ.

Mở rộng kết nối, quảng bá điện ảnh Việt Nam tại Liên hoan phim quốc tế Busan

Mở rộng kết nối, quảng bá điện ảnh Việt Nam tại Liên hoan phim quốc tế Busan

Trong khuôn khổ Liên hoan phim quốc tế Busan lần thứ 31 (BIFF 2026), ngày 10/10, tại Chợ Nội dung và Phim châu Á, Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Busan, Hàn Quốc, Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam (VFDA) chính thức khai trương gian hàng điện ảnh Việt Nam, mở đầu chuỗi hoạt động của VFDA tại Busan, tạo cơ hội quảng bá điện ảnh Việt Nam, giới thiệu tiềm năng của các địa phương, Liên hoan phim châu Á – Đà Nẵng.

 Sắc màu văn hóa trong Lễ hội Katê Khánh Hòa

Sắc màu văn hóa trong Lễ hội Katê Khánh Hòa

Lễ hội Katê phản ảnh sâu sắc những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào người Chăm. Đây là dịp tưởng nhớ, tri ân các vị thần có công với đồng bào dân tộc Chăm; tưởng nhớ ông bà, tổ tiên và thực hành các nghi lễ truyền thống; cầu mong cuộc sống ấm no, bình an, hạnh phúc.