40 ngày là tù binh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam: Tự do

Tám người chúng tôi, 3 người Mỹ và 5 người lính vừa Việt vừa Campuchia hành lý trên vai, leo lên chiếc xe khách nhỏ đã chờ sẵn. Một cảm giác lạ lùng đến với tôi sau gần 40 ngày luôn phải đi vào ban đêm thì nay được đi giữa ban ngày.

1. Cuối cùng, ngày tự do cũng đến nhưng trước đó, anh Hai cho chúng tôi biết sẽ phải tham dự một cuộc họp báo. Cơm trưa xong, chúng tôi được dẫn đến một căn nhà có những bậc thềm xi măng thay vì chiếc cầu thang bằng gỗ.

Theo chân anh Ba, anh Tư và người du kích Campuchia tên Ban Tun, chúng tôi vào căn phòng chính. Giữa phòng là một cái bàn phủ khăn nylon màu hồng với ba chiếc ghế. Trên bàn có hai bình hoa nhựa còn phía sau là hai lá cờ mà lần đầu tiên chúng tôi mới thấy. Đó là quốc kỳ cách mạng Campuchia với hai dải màu xanh dương nằm ở phía trên và phía dưới, còn chính giữa là ngôi đền Angkor màu trắng trên nền đỏ cùng hàng chữ tiếng Pháp viết tắt F.U.N.K (Front Uni National du Kampuchea - Mặt trận Liên hiệp Quốc gia Campuchia).

Vài phút sau đó, 8 người đàn ông vừa Việt, vừa Campuchia xuất hiện, trong đó có viên sĩ quan phản gián đã thẩm vấn chúng tôi. Một người Việt và một người Campuchia, cổ quàng khăn màu xanh, ngồi xuống rồi người Campuchia tự giới thiệu rằng mình là Tư lệnh Quân khu 203 Campuchia.

Ngay lập tức, một người Việt Nam đặt một máy ghi âm và micro trước mặt ông tư lệnh và cuộc họp báo bắt đầu. Theo ông, F.U.N.K đã kiểm soát toàn bộ 3 tỉnh phía đông Campuchia là Kratie, Stung Treng và Mondul Kiri cùng 40 thị trấn nằm ngoài 3 tỉnh này. Bên cạnh đó, ông cũng cho biết các điệp viên CIA đã cài người vào các cơ quan ngoại giao của Pháp, Australia, Nhật, Sài Gòn, Đài Loan tại Phnôm Pênh và đã thực hiện cuộc lật đổ Hoàng thân Sihanouk. Ông khẳng định F.U.N.K đã tiêu diệt 3.000 quân Mỹ và 20.000 quân Việt Nam Cộng hòa..

Hai tiếng sau, ông tư lệnh mới phát biểu xong vì cứ nói hết một hai câu bằng tiếng Campuchia, người phiên dịch phải dịch câu nói đó sang tiếng Pháp khiến chúng tôi không còn thời gian để đặt câu hỏi với ông. Tiếp theo, ông bắt tay chúng tôi rồi rời khỏi căn nhà cùng với viên sĩ quan phản gián và những người trong nhóm.

Theo lời anh Ba, chúng tôi sẽ khởi hành đến tự do vào buổi chiều. Dùng hai chiếc khăn tay của tôi và một mảnh vải trắng rồi buộc vào một thanh tre, anh làm cho tôi một lá cờ mà anh gọi là "cờ đình chiến". Anh dặn: "Nếu bị tấn công, đừng chạy theo chúng tôi nữa mà hãy đứng lại rồi giương cao lá cờ lên. Đừng quan tâm đến chúng tôi. Nhớ nhé".

Nhà báo Michael Morrw (đứng giữa, hàng bên trái) cùng các đồng nghiệp trở lại thăm nơi ông đã bị bắt.

Nhà báo Michael Morrw (đứng giữa, hàng bên trái) cùng các đồng nghiệp trở lại thăm nơi ông đã bị bắt.

Tám người chúng tôi, 3 người Mỹ và 5 người lính vừa Việt vừa Campuchia hành lý trên vai, leo lên chiếc xe khách nhỏ đã chờ sẵn. Một cảm giác lạ lùng đến với tôi sau gần 40 ngày luôn phải đi vào ban đêm thì nay được đi giữa ban ngày.

Chạy khoảng 1 giờ, xe tiến vào một ngôi làng lớn. Ở đó, người ta đã tổ chức một cuộc mít tinh với khoảng 2.000 người tham dự. Tôi, Michael và Beth được mời lên sân khấu, đứng cạnh bục diễn thuyết, sau lưng chúng tôi là những biểu ngữ: "Nhân dân Kh'mer muôn năm'", "Tình đoàn kết nhân dân Đông Dương muôn năm" và đặc biệt là "Chúng tôi cám ơn nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập của chúng tôi".

Một sĩ quan bước đến micro và đọc một bài diễn văn ngắn, nội dung chính là bày tỏ sự cám ơn "nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh của chúng tôi". Ngay khi Beth đang nói lời đáp từ thì một cơn mưa lớn trút xuống khiến cuộc mít tinh phải dừng lại. Trú mưa trong một phòng học, tôi bất ngờ khi nhìn thấy người sĩ quan miền Bắc Việt Nam cao lớn mà dường như luôn luôn có mặt vào những thời điểm quan trọng nhất. Sau cái bắt tay nồng nhiệt, ông nhắc lại những chỉ dẫn cuối cùng về việc sử dụng lá cờ đình chiến rồi đưa cho mỗi người chúng tôi một tờ giấy viết bằng tiếng Campuchia nhưng trên đó, họ tên của chúng tôi được viết đúng nguyên bản: "Hãy trình giấy này cho các đơn vị khác của Mặt trận mà các anh gặp. Nhưng đừng bao giờ đưa ra cho lính Campuchia, lính miền Nam Việt Nam hay lính Mỹ trên đường các anh về Sài Gòn".

2. Tưởng là nhìn thấy tự do nhưng không ngờ cơn mưa lớn đã khiến đoạn đường đất dẫn ra Quốc lộ 1, xe khách không đi được vì bùn lầy nên chúng tôi phải đợi qua ngày mai. Nháy mắt với chúng tôi trước khi chia tay, ông cao lớn nói: "Lần sau nếu có vào vùng giải phóng, hãy vui lòng chờ thư mời để chúng tôi có thể lo cho các anh chu đáo hơn".

Đến lượt anh Hai chào chúng tôi. Tôi và Michael ôm hôn anh còn Beth thì đưa bàn tay ra nhưng anh Hai có vẻ bối rối. Trong một bài báo về sau này, Beth viết: "Tôi quên mất anh ấy là người Việt, không có thói quen hôn tay phụ nữ khi từ biệt và tôi cảm thấy xấu hổ vì cử chỉ ngốc nghếch của mình". Anh Tư xúc động nhất, anh ôm cả ba chúng tôi rồi nói anh tin chắc sẽ gặp lại chúng tôi ngày chiến thắng.

Bây giờ chỉ còn lại 3 nhà báo chúng tôi, anh Ba và một du kích người Campuchia gốc Hoa, tên Wang. Chúng tôi lên đường vào chiều hôm sau trên một chiếc xe Jeep thay vì xe khách. Đang chạy, đột ngột anh Ba quát lên: "Trực thăng" trong khi cả ba chúng tôi chẳng ai nhìn thấy gì. Người tài xế nhanh chóng cho xe chạy vào một căn nhà sàn ven đường rồi chui xuống gầm nhà trong lúc 3 chiếc trực thăng lượn theo hình vòng cung một đoạn rồi bay thẳng.

Nhà báo Elizabeth, ảnh chụp khi bà đọc lại bài báo của mình viết về những ngày ở Campuchia.

Nhà báo Elizabeth, ảnh chụp khi bà đọc lại bài báo của mình viết về những ngày ở Campuchia.

Chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi hai lần ở hai ngôi làng. Theo kế hoạch, sẽ có mấy chiếc xe gắn máy đón chúng tôi tại điểm hẹn vào lúc chập choạng tối. Tại ngôi làng đầu tiên, bất chấp những lời giải thích của Wang, một phụ nữ thấp béo, tay cầm cây cuốc chim la lớn: "Tụi Mỹ à", rồi giơ cây cuốc lên cao như có ý muốn bổ vào đầu chúng tôi. Một thanh niên với một dải băng trên mắt, chen vào nhìn chúng tôi trừng trừng. Michael hỏi bằng tiếng Việt: "Anh bị thương à?". Anh ta trả lời, giọng không hề hối tiếc: "Đúng thế, bị thương vì đánh quân xâm lược Mỹ".

Ở điểm hẹn, đã có 4 chiếc xe gắn máy do Nhật Bản sản xuất, đợi sẵn, tài xế là người Campuchia. Chúng tôi mỗi người leo lên một xe. Bánh xe lăn theo lối mòn ngoằn ngoèo trong những khu rừng hoặc những bờ đất hẹp giữa hai thửa ruộng với tốc độ có khi lên đến 30km/giờ. Gặp những hố ngập nước hay những ổ gà sâu hoắm, xe trườn qua chậm chạp, nước ấm do ánh nắng ban ngày đun nóng thỉnh thoảng lại tóe vào chân tôi.

Sau ba tiếng đồng hồ nhồi lắc trên xe gắn máy, cả nhóm dừng lại cạnh một hàng cây trong lúc anh Ba và một tài xế người Campuchia vẫn tiếp tục đi. Tôi hỏi người du kích gốc Hoa tên Wang: "Chúng ta đang ở đâu": Wang cho biết: "Cách Quốc lộ 1 khoảng 200 mét. Anh Ba đi trinh sát để xem có an toàn không".

Nửa tiếng chờ đợi dài như nửa thế kỷ nhưng cuối cùng anh Ba và người tài xế cũng quay lại. Mất thêm vài phút nữa, mấy chiếc xe gắn máy đã chạm mặt với một đoạn cong cong của Quốc lộ 1 rồi vượt qua đường, đến một dãy phố hầu hết là những cửa hàng buôn bán. Theo lệnh anh Ba, tất cả các xe đều phải đỗ dưới mái hiên của một quán ăn, nơi ánh trăng không soi tới. Một du kích gọi ông chủ quán rồi qua vài câu trò chuyện, ông đem bánh và nước trà mời chúng tôi.

Trong khi chúng tôi thưởng thức món bánh nướng ngọt ngào của người Hoa, Michael nghe anh Ba và Wang đang cố thuyết phục ông chủ tiệm cho chúng tôi ngủ nhờ đến sáng. Tuy nhiên, ông chủ tiệm có vẻ sợ. Cũng dễ hiểu thôi: Ban ngày, dù muốn dù không ông cũng phải tuân phục chế độ Lon Non, còn ban đêm, ông phục vụ những yêu cầu của du kích. Ông không muốn đem sinh mạng, nhà cửa, tài sản ra để đánh cược với việc chứa chấp 3 người chúng tôi mà theo suy nghĩ của ông, dù chúng tôi là nhà báo nhưng đều là… Mỹ!

Cuối cùng, một du kích nảy ra sáng kiến: Anh ta nhìn thấy một cái quán bỏ không gần đó. Quán chỉ có mái lá che phía trên, sàn bằng tre còn xung quanh trống hốc trống hoác. Hốt một bó rơm từ một cây rơm ở đâu đó, anh ta trải xuống sàn tre làm chỗ ngủ cho chúng tôi.

Cuộc chia tay giữa anh Ba, Wang và chúng tôi diễn ra đầy xúc động. Cả hai lần lượt ôm lấy chúng tôi rồi hứa sẽ tìm gặp lại nhau sau ngày chiến thắng. Câu cuối cùng tôi hỏi anh Ba là "mấy giờ rồi". Anh đáp: "Mười một giờ kém mười". Trong một bài báo của mình, Beth viết: "Nước mắt tôi ướt đẫm gò má khi anh Ba thay vì ôm tôi, anh chỉ khẽ chạm lên vai tôi rồi sau đó, họ biến mất trong bóng đêm. Nếu có một người nào đó mà tôi mong muốn gặp lại nhất trong cuộc đời mình thì đó chính là anh".

3. Trời sáng, Quốc lộ 1 đổi chủ. Thay vì du kích thì bây giờ là chiếc xe Jeep của quân đội miền Nam Việt Nam với những người lính, súng chĩa ra phía trước, đi dò đường. Khoảng một tiếng sau, xe đạp, xe gắn máy, xe lôi và đôi lúc là một chiếc xe khách chạy theo hướng từ Sài Gòn lên Phnôm Pênh, máy nổ ầm ĩ.

Người dân Campuchia chạy ra khỏi làng mạc để tránh những cuộc ném bom của không quân Mỹ.
Người dân Campuchia chạy ra khỏi làng mạc để tránh những cuộc ném bom của không quân Mỹ.

Trời càng lúc càng nóng. Đợi suốt 1 tiếng mà chẳng thấy có chiếc xe khách nào từ Phnôm Pênh về Sài Gòn. Lại thêm 1 tiếng nữa trôi qua trong khói bụi. Một nhà sư ở một ngôi chùa gần đó đem cho chúng tôi nước trà nhưng chỉ giúp chúng tôi đỡ khát trong chốc lát. Một nhóm học sinh Campuchia thấy chúng tôi đứng bên lề đường với lá cờ trắng méo mó vì không có gió đã dừng lại, hỏi chúng tôi bằng tiếng Anh là ai, làm gì. Michael trả lời rằng chúng tôi là nhà báo Mỹ bị hư xe, đang tìm cách về Sài Gòn. Các học sinh nói ban đầu, họ tin là người Mỹ và Nam Việt Nam đến giúp họ. Nhưng rồi bom đạn trút xuống làng xóm họ, lính miền Nam Việt Nam cướp phá, lấy đi tiền bạc và tài sản trong nhà họ thì họ không còn niềm tin nào nữa...

Cuối cùng, may mắn đã đến khi chúng tôi lên được một chiếc xe mui trần của quân đội miền Nam Việt Nam nhưng nó chỉ cho chúng tôi đi nhờ một đoạn. Ngay lúc ấy, trong đầu tôi đã nhen nhóm những ý tưởng đầu tiên về hồi ký "Forty days with the Enemy". Kế tiếp, chúng tôi quá giang một đoàn xe quân sự trở về từ Phnôm Pênh sau khi đã vận chuyển binh lính và hàng tiếp liệu lên cho nơi này. Dồn hết vào buồng lái, Michael nói với tài xế chúng tôi là nhà báo và trong một trận đánh, chúng tôi bị lạc khỏi đơn vị lính Mỹ mà chúng tôi đi theo, mất hết hành lý.

Đoàn xe quân sự chạy qua hàng loạt các trạm kiểm soát, các chòi canh, bốt gác nhưng chẳng ai hỏi han chúng tôi điều gì. Lá cờ "đình chiến" xem ra không có dịp phát huy tác dụng của nó. Sau cùng, xe dừng lại ngay trước cổng vào của một đơn vị "quân vận" (vận tải quân sự) ở Sài Gòn và người tài xế cho biết chỉ có thể đưa chúng tôi đến đây. Vẫy một chiếc taxi, cả ba chúng tôi leo lên, về thẳng nhà Michael.

Sau khi ăn rồi tắm vội vàng, tôi vào USO (Cơ quan Hỗ trợ quân đội Mỹ trong các dịch vụ tinh thần, phúc lợi và giải trí - United Service Organizations) rồi  điện thoại về Washington, ở đó lúc ấy là 4 giờ sáng. Tôi nghe điện thoại viên nói với đầu dây bên kia: "Có một cuộc gọi từ Richard Dudman ở Sài Gòn".

Trong ống nghe, là tiếng thở gấp rồi giọng vợ tôi run rẩy, lặp đi lặp lại tên tôi đến mấy lần: "Ôi! Richard! Richard! Richard!"…

Cao Trí (lược dịch từ hồi ký “Forty days with the Enemy”)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.