Vụ bê bối cưỡng bức triệt sản ở Peru

Đầu những năm 1990, chính quyền Peru đứng đầu là Tổng thống Fujimori đã phát động một chiến dịch nhằm giảm tỉ lệ sinh trong cả nước. Kết quả là đến năm 2000, đã có khoảng 300.000 phụ nữ bị buộc phải triệt sản, trong đó rất nhiều người mới chỉ có 1 hoặc 2 con.

Năm 2018, ông Pedro Chávarry Vallejos,Tổng chưởng lý Viện Công tố tối cao Peru thay mặt cho các nạn nhân mở một vụ kiện mà ông gọi là “tội ác chống lại loài người”…

Nguồn gốc của việc cưỡng bức triệt sản

Tháng 6/1992, Mamerita Mestanza, 33 tuổi, là mẹ của 3 đứa con  đến trạm y tế địa phương nơi cô cư ngụ để thăm khám vì những cơn ho dai dẳng. Thế nhưng trong quá trình hỏi han tiền sử bệnh tật, một bác sĩ ở đây nói với Mamerita: “Này cô, theo luật mới cô có thể bị bỏ tù vì cô đã sinh hơn 2 đứa. Vì vậy, cô nên triệt sản để khỏi rắc rối về sau này”.

Nhằm chứng minh lời nói của mình, bác sĩ cho Mamerita xem một sắc lệnh do chính Tổng thống Fujimori ký, gọi là “Chương trình dân số quốc gia nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo”, có hiệu lực từ tháng 1/1991. Theo đó tất cả những phụ nữ đã có 2 con đều phải tự nguyện triệt sản. Nếu ai không chấp hành sẽ bị xử lý trước pháp luật.

Vụ bê bối cưỡng bức triệt sản ở Peru -0
Ông Pedro Chávarry Vallejos, Tổng chưởng lý Viện Công tố tối cao Peru thay mặt cho các nạn nhân mở vụ kiện.

Vài ngày sau, Mamerita lên bàn mổ. Ca phẫu thuật cắt ống dẫn trứng diễn ra nhanh chóng nhưng chỉ được 9 ngày, Mamerita chết vì nhiễm trùng máu. Alvarez, chồng cô nói: “Không ai hỏi  ý kiến tôi về việc vợ tôi triệt sản, họ không giải thích vì sao vợ tôi chết và họ cũng không bồi thường, kể cả tiền mai táng”.

Mamerita chỉ là 1 trong 300.000 ca triệt sản cưỡng bách diễn ra từ giữa năm 1991 đến gần cuối năm 2000, là thời điểm ông Fujimori thôi làm tổng thống Peru, chưa kể hơn 20.000 người đàn ông khác ký đơn “tự nguyện thắt ống dẫn tinh” nhằm tránh để vợ mình phải lên bàn mổ. Một báo cáo do Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ công bố cho thấy tuyệt đại đa số những phụ nữ bị cưỡng bách triệt sản đều là những người nghèo, thuộc nhóm dân thiểu số nói tiếng Quechua.

Các nạn nhân lúc ra làm chứng trước Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ đều khai rằng sau khi chính quyền địa phương lập danh sách những người đã sinh trên 2 con thì chỉ vài ngày, họ lần lượt bị lùa lên xe tải dưới sự canh chừng của cảnh sát rồi được đưa đến những cơ sở y tế. Tại đó, họ bị triệt sản mà không hề được hỏi ý kiến. Bà Gianella, một trong những nạn nhân cho biết khi ca phẫu thuật hoàn tất, bác sĩ đưa cho bà một tờ giấy yêu cầu ký tên. Bà nói: “Chúng tôi không được đọc những gì viết ở mặt trước tờ giấy, chỉ ký vào mặt sau. Mãi đến khi Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ công bố bản báo cáo, chúng tôi mới biết tờ giấy ấy là “đơn tình nguyện triệt sản”.

Ngược dòng thời gian, sau sự sụp đổ của chính quyền quân sự Peru năm 1980, trước vấn nạn nghèo đói gia tăng, tỉ lệ sinh vượt quá mức kiểm soát, 1/4 trẻ ra đời suy dinh dưỡng, tổng thống mới nhậm chức là ông Fernando Belaúnde đã thực hiện những nỗ lực nhằm mở rộng quyền tiếp cận các biện pháp kiểm soát dân số. Theo đó, Hội đồng Dân số  quốc gia được thành lập và Chương trình Kế hoạch hóa gia đình được áp dụng ở tất cả các cơ sở y tế dưới hình thức tự nguyện, bao gồm các phương pháp đặt vòng tránh thai, uống thuốc ngừa thai, hủy thai khi thai dưới 4 tuần tuổi. Đến khi ông Alan García lên thay ông Fernando Belaúnde làm tổng thống, những nỗ lực ấy vẫn được tiếp tục nhưng cuối năm 1986, quân đội Peru ngày càng thất vọng trước việc Tổng thống Alan García không thể giải quyết các cuộc khủng hoảng về kinh tế và chính trị của đất nước. Do đó ngày 27/7/1990 họ tiến hành đảo chính, đưa ông Alberto Fujimori lên nắm quyền.

Trở thành người đứng đầu Peru, ông Fujimori chịu ảnh hưởng sâu sắc của “thuyết Malthus” về kinh tế. Theo thuyết này, dân số thế giới cứ 25 năm lại tăng theo cấp số nhân 2, 4, 8, 16, 32, 64, 128, 256... trong lúc độ màu mỡ của đất đai và tài nguyên thiên nhiên  giảm dần nên của cải vật chất làm ra chỉ tăng theo cấp số cộng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9… Vì thế, cách giải quyết tốt nhất của Peru là kìm hãm đà gia tăng dân số thông qua một chương trình được ông Fujimori gọi là “Kế hoạch Verde”, trong đó triệt sản phụ nữ là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên đối tượng triệt sản lại không phải là những phụ nữ thuộc nhóm Creoles - là hậu duệ trực tiếp của người Tây Ban Nha, sinh ra ở Peru hay nhóm Mestizos, Mulattoes, Cholo…, gốc Tây Ban Nha lai Ấn Độ, chiếm đa số ở Peru mà là những nhóm dân bản địa như Kokamila, Inca, Aymara, Khowaru, Amahoaca, Ticona… Theo định nghĩa của “Kế hoạch Verde”, nhóm dân bản địa này được đánh giá là “lạc hậu về văn hóa”, là “gánh nặng cho nền kinh tế đất nước” nên vì thế “cần thiết phải hạ mức sinh của họ bằng 0".

Vụ bê bối cưỡng bức triệt sản ở Peru -0
Ông Fujimori và Bộ trưởng Y tế Eduardo Yong Motta, người tích cực ủng hộ triệt sản cưỡng bức.

Chính sách khử trùng

Thoạt đầu, “Kế hoạch Verde” được các quan chức của Bộ Y tế Peru gọi là “Chính sách khử trùng”, thực hiện mỗi tháng 1 lần ở các cơ sở y tế cấp quận, thành phố. Khi ấy tất cả mọi phụ nữ bản địa đã có 2 con đều được mời lên, chỉ trừ những người trên 60 tuổi. Đến năm 1993, “Chính sách khử trùng” mở rộng đến từng trạm y tế thôn xã với quy định “nếu nhân viên y tế không thực hiện thì sẽ bị sa thải”. Trong suốt 8 năm - từ 1991 đến 1998, nó được sự hỗ trợ tài chính của một số quốc gia vì họ tin rằng việc kiểm soát dân số ở Peru sẽ giúp nước này thoát nghèo.

Nhớ lại giai đoạn ấy, Tiến sĩ Albert thuộc Tổ chức Y tế thế giới nói: “Tôi đã 3 lần đến Peru. Tại các trung tâm kiểm soát dân số, tôi đã được các bác sĩ ở đây cho xem hàng chồng đơn tự nguyện triệt sản mà về sau tôi mới biết những người ký là người mù chữ! Thậm chí họ còn cho tôi gặp một số phụ nữ và qua lời phiên dịch của họ, những phụ nữ nêu trên đều xác nhận rằng họ hoàn toàn không bị ép buộc. Tuy nhiên vì không hiểu ngôn ngữ của họ, tôi chẳng biết người phiên dịch có nói đúng hay không…”.

Một trong những người hăng hái nhất trong việc thực hiện “Chiến dịch khử trùng” là ông Eduardo Yong Motta, Bộ trưởng Y tế. Nếu như từ 1991 đến 1995, phụ nữ bị cưỡng bách triệt sản chủ yếu là người có nguy cơ về sức khỏe như bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, suy giảm miễn dịch hoặc đã có 3 con thì từ 1996 trở đi, đối tượng triệt sản ngoài phụ nữ bản địa, còn có những người thuộc các cộng đồng nghèo. Báo cáo của Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ cho thấy đích thân ông Eduardo Yong Motta đã gây sức ép với các nhà lãnh đạo ở từng địa phương để họ phải thực hiện những yêu cầu của ông. Chính vì thế, từ 1991 đến 1995, mỗi năm bình quân Peru có 15.000 trường hợp triệt sản cưỡng bách thì năm 1996, con số này là 67.000 còn năm 1997, nó là 115.000! Chưa hết, nhiều nhân viên y tế tham gia “Chiến dịch khử trùng” không được đào tạo đầy đủ về chuyên môn, dụng cụ thực hiện triệt sản đa số đã lỗi thời nên đã dẫn đến cái chết của ít nhất là 24.000 người!

Vẫn theo báo cáo của Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ, trong quá trình thực hiện triệt sản ở Peru, nhiều mánh khóe đã được áp dụng nhằm đánh lừa nạn nhân, chẳng hạn như trường hợp của Magarita, 26 tuổi. Cô đến bệnh viện để thăm khám vì những cơn đau quặn ở bụng dưới. Lúc biết Magarita đã có 1 con, bác sĩ trực tiếp thăm khám cho cô giải thích rằng cô bị khối u đại tràng và cần phải mổ. Kể lại chuyện này, Magarita cho biết cô không ngờ họ đã cắt bỏ cả 2 ống dẫn trứng của cô trong lúc thực tế thì cô chỉ bị rối loạn tiêu hóa. Một số phụ nữ khác do sinh khó, phải mổ thì trong quá trình mổ bắt con, bác sĩ cắt luôn cả tử cung. Ngay cả một phụ nữ là Anna, 30 tuổi, chỉ bị viêm dạ dày cũng được đưa vào phòng phẫu thuật để triệt sản.

Vụ bê bối cưỡng bức triệt sản ở Peru -0
Dù cơ sở vật chất tạm bợ nhưng Trạm Y tế này vẫn thực hiện triệt sản.

Ai sẽ chịu trách nhiệm ?

Năm 2020, sau báo cáo của Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ và nhất là sau phán quyết của Liên hợp quốc về việc cưỡng bức phụ nữ triệt sản ở Peru là “tội ác chống lại loài người” đồng thời yêu cầu phải bồi thường cho các nạn nhân thì Chính phủ Peru mới chính thức thừa nhận. Thời điểm này, ông Fujimori đã thôi làm tổng thống sau 3 nhiệm kỳ liên tiếp, người kế nhiệm ông là Valentín Paniagua. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, triệt sản cưỡng bức là “một phần trong chương trình do cựu tổng thống Peru Fujimori thực hiện trước khi ông thôi chức sau hơn một thập kỷ nắm quyền” nhưng đến nay, chính phủ của Tổng thống Valentín Paniagua hầu như vẫn chưa có một động thái nào nhằm sửa sai những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Cuối cùng là cựu Tổng thống Fujimori. Chiếc ghế tổng thống của ông bắt đầu lung lay hồi tháng 9/2000 khi người đứng đầu cơ quan tình báo Peru là Vladimiro Montesinos dính líu đến một vụ tham nhũng... Sau khi bị sa thải, Montesinos chạy qua tị nạn ở Panama.

Tháng 11/2000, trong khi Fujimorri đang ở nước ngoài để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh thương mại vành đai Thái Bình Dương thì ở Peru, các đảng đối lập chiếm quyền kiểm soát quốc hội. Từ Nhật Bản, Fujimori thông báo rằng ông sẽ từ chức tổng thống nhưng Quốc hội Peru không chấp nhận mà thay vào đó, quốc hội bỏ phiếu phế truất Fujimori đồng thời ra lệnh bắt giữ ông.

Năm 2003, di sản chính trị của Fujimori tan thành mây khói khi Ủy ban Hòa giải và sự thật Peru do chính phủ thành lập, đã điều tra các lạm dụng về nhân quyền trong suốt thời gian ông Fujimori làm tổng thống. Vì có cha mẹ là người Nhật nên ngày 12/12/2000 ông Fujimori được Nhật Bản công nhận là có quốc tịch Nhật. Điều đó bảo đảm cho ông không bị dẫn độ về Peru.

Đáp lại, Chính phủ Peru ra lệnh truy nã quốc tế với ông Fujimori vì vi phạm nhân quyền. Ngày 7/11/2005, khi đến Santiago, Chile, ông Fujimori bị bắt và bị giam tại Chile. Để cứu ông, ngày 28/6/2007 ông Shizuka Kamei, Chủ tịch đảng Tân Nhân dân (PNP), Nhật Bản thông báo “Fujimori đã được đảng của ông đưa vào danh sách ứng cử thượng viện tại Nhật Bản”. Có lẽ vì thế mà ngày 11/7/2007, ông Orlando Álvarez, thẩm phán Tòa án Tối cao  Chile từ chối cho Peru dẫn độ Fujimori. Chỉ đến khi Ủy ban Liên hợp quốc về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ và Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ lên tiếng cộng với tuyên bố của ông ông Pedro Chávarry Vallejos,Tổng chưởng lý Viện Công tố tối cao Peru, thay mặt cho các nạn nhân bị cưỡng bức triệt sản là sẽ tiến hành vụ kiện “tội ác chống lại loài người” thì ngày 21/9/2017, Tòa án Tối cao Chile mới đồng ý cho phép dẫn độ Fujimori.

Ngày 22/9/2017, ông Fujimori về đến Peru và bị giam trong nhà tù của Tổng hành dinh Cảnh sát đặc biệt ở Dinoes với cáo buộc gồm 18 tội danh, gồm tham nhũng, tra tấn, giết người, cưỡng bức triệt sản, lạm dụng quyền lực… Từ đó đến năm 2021, ông lần lượt bị tòa án Peru tuyên phạt 25 năm tù vì vi phạm nhân quyền, giết người, bắt cóc, 6 năm tù vì lạm dụng quyền lực, 7,5 năm tù vì biển thủ công quỹ và 6 năm tù vì tham nhũng, nhận hối lộ. Tổng hình phạt đành cho ông là 44,5 năm tù.

Ngày 11/9/2024, ông Fujimori chết vì bệnh ung thư. Dẫu vậy, ngày 26/11/2024 Bộ Tư pháp Peru tiếp tục mở phiên điều trần để quyết định xem những người trực tiếp thực hiện triệt sản cưỡng bức là Alejandro Aguinaga, Marino Costa Bauer và Eduardo Yong Motta, đã từng giữ chức Bộ trưởng Y tế Peru dưới thời Fujimori sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào…

Vũ Cao (Theo Latin America Today)

Các tin khác

Dẹp ma trận hóa đơn khống cùng công ty “ma”

Dẹp ma trận hóa đơn khống cùng công ty “ma”

Thời gian qua, tình trạng thành lập các doanh nghiệp “ma” để mua bán hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) trái phép đang diễn biến hết sức phức tạp với quy mô đặc biệt lớn, thủ đoạn tinh vi.

Những ác nhân mang danh “cha - mẹ”!

Những ác nhân mang danh “cha - mẹ”!

Đối với hầu hết các bậc cha mẹ, trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của xã hội nên cần dành tình yêu thương, che chở, chăm sóc, dạy dỗ tốt nhất. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp lại xem thành viên nhỏ là gánh nặng, gây cản trở công việc làm ăn nên cứ mỗi khi gặp phải những vấp váp trong cuộc sống là trút những trận đòn roi, thậm chí dùng nhục hình lên cơ thể các cháu để xả giận.

Đào vàng online, vỡ mộng giấc mơ làm giàu xuyên biên giới

Đào vàng online, vỡ mộng giấc mơ làm giàu xuyên biên giới

“Đào vàng ảo, nhận vàng thật” là những lời mời gọi béo bở thu hút đông đảo thợ đào khắp nơi tìm về các “mỏ vàng” xuyên biên giới, nuôi dưỡng giấc mơ giàu sang. Thế nhưng, vàng đâu không thấy, chỉ thấy “vàng mắt” vì rơi vào bẫy lừa đảo…

Kẻ mạo danh và tấn bi kịch của niềm tin

Kẻ mạo danh và tấn bi kịch của niềm tin

Một người bán thịt nặng gần 100kg, gần như không biết tiếng Pháp, lại có thể khiến một người mẹ quý tộc tin rằng đó là đứa con trai thanh lịch của mình. Cuộc nhận mặt kỳ lạ tại Paris năm 1867 không chỉ mở đầu cho một trong những vụ mạo danh chấn động nhất lịch sử tư pháp Anh, mà còn phơi bày một nghịch lý tàn nhẫn: Đôi khi con người ta thèm khát một lời nói dối dễ tin hơn là chấp nhận một sự thật đã biến mất. Vụ việc vì thế không còn dừng lại ở một màn lừa đảo cá nhân mà trở thành điểm tụ của những bất mãn xã hội âm ỉ trong lòng nước Anh thời nữ hoàng Victoria.

Chiêu lừa tinh vi từ những “suất nội bộ giá rẻ”

Chiêu lừa tinh vi từ những “suất nội bộ giá rẻ”

Những lời chào mời “suất nội bộ giá rẻ” đang lan tràn trên mạng xã hội, được dàn dựng bằng kịch bản ngày càng tinh vi từ fanpage giả, giao dịch ảo đến giấy tờ giả, biến niềm tin của người mua thành công cụ để chiếm đoạt tài sản. Không ít nạn nhân chỉ nhận ra mình sập bẫy khi đã mất hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng và rơi vào vòng xoáy tranh chấp pháp lý kéo dài.

Bí hiểm người mẹ Mỹ khủng bố tin nhắn con gái

Bí hiểm người mẹ Mỹ khủng bố tin nhắn con gái

Một nữ sinh trung học ở Mỹ liên tục nhận được tin nhắn từ số điện thoại lạ khủng bố tinh thần, xúi giục tự tử trong hơn một năm, cho đến khi cảnh sát vào cuộc, phát hiện người gửi không phải ai khác, mà chính là mẹ cô?!

Israel thông qua dự luật tử hình đối với tội danh khủng bố

Israel thông qua dự luật tử hình đối với tội danh khủng bố

Quốc hội Israel (Knesset) vừa thông qua một trong những dự luật gây tranh cãi nhất thời gian gần đây: áp dụng án tử hình đối với tội giết người do khủng bố. Văn bản này tập trung vào các vụ án được xét xử bởi Tòa án quân sự ở Bờ Tây sông Jordan, đồng nghĩa với việc đối tượng chịu tác động chủ yếu là người Palestine, dù văn bản luật không trực tiếp đề cập đến quốc tịch hay nguồn gốc sắc tộc của bị cáo. Bài viết phân tích những khía cạnh pháp lý và tác động an ninh xung quanh dự luật này.

Bên trong những “nhà máy lừa đảo” xuyên quốc gia

Bên trong những “nhà máy lừa đảo” xuyên quốc gia

Ẩn sau những vụ lừa đảo trực tuyến liên tục gia tăng thời gian qua là một thực tế ít được nhìn thấy: hàng chục nghìn người bị dụ dỗ, cưỡng ép hoặc mua bán để làm việc trong những trung tâm lừa đảo. Đây không đơn thuần là những tụ điểm tội phạm nhỏ lẻ, mà đã tiến hóa thành một hệ thống vận hành khép kín, nơi ranh giới giữa thủ phạm và nạn nhân mỏng manh đến mức đáng sợ. Khi tội phạm công nghệ cao được tổ chức hóa theo quy mô tập đoàn, các quốc gia đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kép: an ninh mạng và buôn bán người.

Cẩn trọng bẫy vàng giá rẻ trên mạng xã hội

Cẩn trọng bẫy vàng giá rẻ trên mạng xã hội

Giá vàng biến động mạnh không chỉ làm nóng thị trường mà còn kéo theo làn sóng lừa đảo trên mạng xã hội. Từ những tài khoản ảo rao bán “giá hời” đến fanpage “tích xanh” giả mạo thương hiệu lớn, hàng loạt cái bẫy được giăng ra nhằm đánh vào tâm lý muốn mua nhanh, mua rẻ của khách hàng, khiến không ít người lâm vào cảnh tiền thì mất mà vàng thì chẳng nhìn thấy đâu.

Khi AI thành công cụ của tội phạm có tổ chức

Khi AI thành công cụ của tội phạm có tổ chức

Chúng không cần phá khóa, cũng không cần đột nhập máy chủ. Điều chúng cần đơn giản hơn nhiều: khiến bạn tin. Tin vào khuôn mặt người đồng nghiệp quen thuộc trên màn hình, tin vào giọng nói của “sếp” trong điện thoại, tin rằng mọi thứ vẫn đang vận hành đúng quy trình. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), điểm yếu lớn nhất của hệ thống an ninh không còn nằm ở công nghệ, mà nằm ở nhận thức con người.

Giải mã vụ mất tích bí ẩn suốt 66 năm

Giải mã vụ mất tích bí ẩn suốt 66 năm

Một gia đình ở Mỹ rời nhà đi hái cây Giáng sinh rồi biến mất không dấu vết suốt 66 năm, cho đến khi chiếc xe của họ được kéo lên từ đáy sông, cùng câu trả lời mà cả một thế hệ đã chờ đợi.

Bóc gỡ đường dây giả danh cán bộ cấp cao để lừa đảo

Bóc gỡ đường dây giả danh cán bộ cấp cao để lừa đảo

Đối tượng sinh năm 1992 nhưng tạo dựng được vỏ bọc hoàn hảo trong vai “cán bộ Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng” hoặc “Phó Vụ trưởng Ban Nội chính Trung ương, có bố là trung tướng quân đội” để tiếp cận lãnh đạo nhiều đơn vị ở tỉnh Bắc Ninh, thu thập thông tin liên quan đến công tác nhân sự của tỉnh, các chương trình, dự án trên địa bàn tỉnh, sau đó nhận xin việc, chạy dự án cho các cá nhân, công ty có nhu cầu tìm kiếm việc làm, đối tác kinh doanh hoặc huy động vốn đầu tư vào dự án rồi chiếm đoạt tài sản. Đặc biệt, trong đường dây còn có nhiều đối tượng giả danh cán bộ Cục Quản lý vốn, Bộ Tài chính; Thiếu tướng, cán bộ của Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng..., có quan hệ mật thiết với các lãnh đạo, có thể xin được dự án đầu tư xây dựng. Bằng sự kiên trì, tỉ mỉ, tinh thông nghiệp vụ, cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh đã bóc gỡ đường dây lừa đảo trên, bắt giữ 5 đối tượng, thu nhiều tang vật liên quan đến việc phạm tội của chúng.

Ngăn chặn thuốc lá lậu - cần biện pháp từ gốc rễ

Ngăn chặn thuốc lá lậu - cần biện pháp từ gốc rễ

Thời gian qua, dù lực lượng chức năng rất quyết liệt vào cuộc nhằm ngăn chặn triệt để hành vi buôn lậu thuốc lá, song với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, các đối tượng buôn lậu vẫn tìm mọi cách, lợi dụng các kẽ hở để đưa mặt hàng này vào tiêu thụ trong thị trường nội địa vì mức siêu lợi nhuận. Điều này không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và trật tự an toàn xã hội.

Jonathan Wild: Ông trùm tội phạm đội lốt người thực thi công lý

Jonathan Wild: Ông trùm tội phạm đội lốt người thực thi công lý

Đầu thế kỷ XVIII, London từng tin rằng Jonathan Wild (1683-1725) là người giúp lập lại trật tự trong một thành phố đầy rẫy trộm cắp. Nhưng điều lịch sử sau này phơi bày lại hoàn toàn ngược lại: người đàn ông được tôn vinh là “Tổng Tư lệnh chống trộm” ấy thực chất lại là kẻ tổ chức và điều hành một trong những mạng lưới tội phạm tinh vi có tổ chức đầu tiên trong lịch sử nước Anh - mô hình mà nhiều nhà nghiên cứu coi là tiền thân của mafia hiện đại.

Vụ án không có thi thể, không có hung thủ, không có sự thật

Vụ án không có thi thể, không có hung thủ, không có sự thật

Tháng 11/1938, Percy Waddington bước vào đồn cảnh sát Halifax với chiếc áo khoác bị rách toạc và lời khai run rẩy: ông vừa bị một kẻ lạ mặt dùng dao tấn công giữa phố. Các điều tra viên lắng nghe, ghi chép rồi bắt đầu đặt câu hỏi. Mười hai giờ sau, trong phòng thẩm vấn của cảnh sát, khi các câu hỏi đi vào chi tiết - vị trí, khoảng cách, hướng tấn công, Percy Waddington không còn giữ được câu chuyện của mình. Ông đổ sụp và thú nhận: vết rạch trên áo là do chính ông tạo ra. Đó là khoảnh khắc cả một cơn ác mộng kéo dài ba tuần của thị trấn Halifax bắt đầu sụp đổ. Nhưng để hiểu vì sao hàng nghìn người dân bình thường lại có thể bị cuốn vào một cơn loạn thần tập thể đến vậy, phải quay ngược thời gian về những ngày đen tối trước đó.

Bẫy lừa khi vay tiền qua app trên mạng xã hội

Bẫy lừa khi vay tiền qua app trên mạng xã hội

Gần đây thủ đoạn lừa đảo vay tiền nhanh không cần thế chấp qua app “đen” diễn biến phức tạp, bọn lừa đảo giăng sẵn bẫy yêu cầu người vay tải app về điện thoại theo đường link mà chúng cung cấp rồi giở trò, rằng người vay đã thao tác sai nên muốn nhận được tiền ngay phải nộp một số tiền nhất định... Do lơ là cảnh giác, hơn nữa lại trong tình huống cấp bách, người vay nhắm mắt làm theo và đến khi các đối tượng lừa đảo đánh sập trang thì mới biết mình đã bị lừa.

Phá án nhờ dữ liệu số

Phá án nhờ dữ liệu số

Một loạt vụ giết người trên bãi biển Gilgo ở Mỹ chỉ được giải mã khi dữ liệu số và DNA phả hệ lần đầu tiên hợp nhất những hồ sơ rời rạc nhiều thập kỷ thành một bản đồ tội ác thống nhất.

FBI: Tin tặc dùng Telegram phát tán mã độc

FBI: Tin tặc dùng Telegram phát tán mã độc

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) vừa phát đi cảnh báo về làn sóng tấn công mạng gia tăng, trong đó các nhóm tin tặc bị phát hiện lợi dụng ứng dụng Telegram để phát tán mã độc trên diện rộng.

Cái kết đắng của những chủ trang hàng triệu theo dõi

Cái kết đắng của những chủ trang hàng triệu theo dõi

Chỉ một bài đăng trên fanpage đông người theo dõi có thể khiến một doanh nghiệp lao đao sau vài giờ. “review” không còn đơn thuần là chia sẻ trải nghiệm mà đã trở thành công cụ gây sức ép, thậm chí trục lợi, và rất dễ vi phạm pháp luật khi kẻ review sử dụng chính bài viết của mình để làm phương tiện tống tiền.