Thương nhớ đạo diễn - NSND Phạm Thị Thành

Với tôi, NSND Phạm Thị Thành là người chị lớn, cả về nghề và tuổi đời. Biết rằng sẽ có ngày này - chị sẽ rời bỏ nhân gian, khép lại một cuộc đời với biết bao yêu thương và cống hiến, với biết bao đam mê cùng những buồn vui thăng trầm trên con đường đời khúc khuỷu... mà sao khi viết những dòng này, trái tim tôi vẫn nghẹn lại nhói đau.

Đạo diễn - NSND Phạm Thị Thành sinh năm 1941 tại Huế. Chị là con gái út cụ Phạm Khắc Hòe, đổng lý văn phòng của Cựu hoàng Bảo Đại. Là em ruột Tổng giám đốc đầu tiên của VTV Phạm Khắc Lãm. Một gia đình danh gia đã đi theo cách mạng. “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”- quyển sách nổi tiếng của cụ Phạm Khắc Hòe đã nói hết về điều đó.

nsnd ph%3fm th%3f thành.jpg -0
NSND Phạm Thị Thành.

Vì yêu sân khấu nên 15 tuổi chị đã trúng tuyển vào làm diễn viên của Nhà hát Kịch Việt Nam. Với sự ngưỡng mộ tài năng diễn xuất tuyệt vời của NSND Đào Mộng Long, 18 tuổi chị đã đem lòng yêu ông và sau đó hai người nên vợ nên chồng mặc dù diễn viên gạo cội Đào Mộng Long hơn chị nhiều tuổi. Chị đã sinh cho ông hai người con một trai một gái. Sau này hai người chia tay và chị đã không tái hôn cho đến tận cuối đời.

Chị ra đi để lại biết bao niềm tiếc thương cho gia đình, người thân và bạn bè, cộng sự. Nhưng chị - NSND, đạo diễn Phạm Thị Thành đã sống một cuộc đời với trọn vẹn những đóng góp dày dặn, bề thế cho nền nghệ thuật sân khấu nước nhà. Nhất là với Nhà hát Tuổi trẻ, nơi trọn tuổi thanh xuân chị đã gắn bó và dâng hiến. Nơi mà ngay từ những ngày đầu tốt nghiệp khoa đạo diễn ở Matxcơva - Liên Xô cũ năm 1976 về nước, chị đã được mời cùng đạo diễn, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn Hà Nhân và đạo diễn, diễn viên kỳ cựu Kim Chi (Phụ trách đoàn văn công Tổng cục Chính trị) cùng nhau xây dựng nên Nhà hát Tuổi trẻ ra đời năm 1978. Một nhà hát mới mẻ dành riêng cho Thanh thiếu niên đầu tiên của cả nước.

Để ra đời được một nhà hát như vậy không phải chuyện dễ. Các chị đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gõ rất nhiều cánh cửa với uy tín và lòng yêu nghề, sự khát vọng của mình mới có được, xây dựng được một địa chỉ sáng đèn bền bỉ gần nửa thế kỷ trên con phố sầm uất Ngô Thời Nhậm - Hà Nội.

Thời kỳ đầu đạo diễn Phạm Thị Thành làm Phó giám đốc, kiêm chỉ đạo nghệ thuật. Chị đã đặt hàng nhà viết kịch Lưu Quang Vũ viết vở “Sống mãi tuổi 17” và đích thân chị dàn dựng đã gây được tiếng vang lớn. Kịch bản khắc họa hình tượng người anh hùng trẻ tuổi Lý Tự Trọng do diễn viên Lê Hùng đóng vai chính. Vở diễn đầu tiên của Nhà hát đã tạo dựng được hướng đi và đây cũng là vở kịch đầu tiên mà chị thử sức mình trên cương vị đạo diễn.

Những năm sau đó, khi chị đảm nhiệm Giám đốc Nhà hát, cũng chính là những năm mà tài năng chị được dịp thăng hoa nhất. Chị đã song hành một thời gian dài cùng tác giả Lưu Quang Vũ trong nhiều vở kịch. Và là người đạo diễn mát tay khi vở nào chị dàn dựng từ kịch bản của anh cũng đứng vững trên sân khấu, khán giả nườm nượp đến rạp và nhận được nhiều giải thưởng trong các kỳ liên hoan sân khấu toàn quốc.

Đó là những vở: "Lời thề thứ 9", "Người tốt nhà số 5", "Mùa hè cuối cùng", "Trái tim trong trắng", "Vụ án 2000 ngày", "Tôi và chúng ta", "Ông Vua hóa hổ", "Nếu anh không đốt lửa", "Vũ Như Tô"…

Trong đời sống sân khấu ngày ấy, thật hiếm có một cặp đôi tác giả, đạo diễn nào lại ăn ý và hợp nhau “trên tầng cây số” về công việc sáng tạo đến thế. Bên cạnh đó, chị đã có công lớn cùng anh em trong Nhà hát đào tạo được dàn diễn viên trẻ trung tài năng bám trụ với nhà hát, thành danh cũng từ nhà hát như NSND Lê Khanh, NSND Lan Hương, NSƯT Trí Trung, NSƯT Ngọc Huyền cùng nhiều các nghệ sĩ tài năng khác. Không chỉ trong lĩnh vực kịch nói, nhà hát còn xây dựng cả đội ngũ diễn viên tạp kỹ trong đó có nghệ thuật ca múa nhạc như diễn viên ca sĩ Trọng Thủy, Khánh Huyền, Hồng Kỳ, kịch câm có Phúc Dĩ và một số diễn viên khác.

Chị là đạo diễn nữ nhưng lại rất có uy trước các diễn viên và cộng sự. Chị cất tiếng nói hay phân tích nhân vật là tất cả đều im lặng răm rắp lắng nghe. Chị nói có tình có lý, phân tích sâu sắc về tâm lý nhân vật và đưa ra những mảng miếng bất ngờ, gay cấn cho khán giả theo dõi. Chị quan niệm một vở diễn hay tức là vở đó phải mang tính thời đại và đặc biệt phải hấp dẫn. Mỗi vở diễn đều mang một ý tưởng hoặc nhắm đến một ý tưởng nào đó mà nó chuyển tải. Nào là kịch bản phải xây dựng tính cách nhân vật rõ ràng thông qua những mâu thuẫn xung đột và ngôn ngữ thoại! Kịch càng giấu được cái kết để gây bất ngờ cho khán giả càng hấp dẫn. Đạt đến độ “giấu sao để cho khán giả tưởng vậy mà không phải vậy là siêu!”.

Tôi luôn kính phục chị bởi sự thông minh và đầy bản lĩnh. Sự tự tin trong công việc khiến chị dàn dựng vở nào cũng có nét riêng, có sự tìm tòi mới mẻ và đầy nét duyên dáng. Dưới bàn tay chị một chuỗi hơn 200 vở diễn đã được dàn dựng. Một con số thật đáng nể, đòi hỏi sức làm việc phi thường ít có đạo diễn sân khấu nam nào dám so sánh. Chị đạo diễn vở này chưa xong đã có ngay vở khác của nhà hát khác chờ đợi, mời chào. Chị vào Nam ra Bắc. Nơi nào sân khấu cần nơi đó có chị. Thời tác giả Lưu Quang Vũ còn tại thế - anh lúc nào cũng thích được cộng tác cùng đạo diễn Phạm Thị Thành.

Trong cuộc sống chị là người lịch lãm, nhẹ nhàng. Ngược lại, trong công việc chị lại luôn quyết đoán và tự tin dù trong vai trò đạo diễn hay nhà quản lý (sau này chị lên làm Cục phó Cục Nghệ thuật biểu diễn - chị đượcGiải thưởng Nhà Nước về VHNT và là thành viên của BCH Hiệp hội Sân khấu quốc tế dành cho Thanh thiếu nhi ASSITEJ, chị từng tham gia Hội đồng nhân dân TP Hà Nội).

Sau khi nghỉ hưu chị vẫn được mời đạo diễn những chương trình lễ hội lớn, tập hợp và chỉ đạo hàng nghìn diễn viên trong các chương trình đó rất chuyên nghiệp và đầy màu sắc.

Chị bảo phụ nữ mà làm đạo diễn thì trong người đã phải có một nửa tư chất mạnh mẽ của đàn ông. Phải thế chăng mà chị tự cân bằng được chính mình và đời mình, để toàn tâm toàn ý tận hiến cho sân khấu.

Tôi là người em thế hệ sau chị nhưng lại luôn được chị tin tưởng và quí mến. Nhất là sau cái chết của anh Lưu Quang Vũ cùng chị Xuân Quỳnh và bé Mí. Chị Phạm Thị Thành vô cùng đau xót và nuối tiếc anh - một cộng sự vô cùng ăn ý với chị.

Để phần nào bù đắp sự thiếu hụt trong công việc, và cho chị đỡ buồn, thỉnh thoảng tôi phải làm “tiểu đồng” đi cùng chị về một vài địa phương làm công việc của người biên tập theo đề nghị của chị. Những lần được làm “tiểu đồng” như thế, tôi học được ở chị rất nhiều điều quý giá trong đời sống thực tiễn của sân khấu khi vở lên sàn.

Nghe chị như nghe cô giáo truyền nghề. Nắm được nghề không khó nhưng thể hiện được ra thành văn bản lại phải có cái duyên chữ nghĩa và sự hóm hỉnh, duyên dáng trời cho. Chị bảo điều này ở anh Vũ có thừa nên không ngạc nhiên khi vở nào mà anh Vũ viết ra các đoàn cứ tranh nhau dựng, và ra mắt thành công là vì thế.

Tôi rất may mắn được cộng tác với chị, được chị dựng cho 3 vở ở Nhà hát Tuổi Trẻ (vở "Câu chuyện tình" tôi đồng tác giả với Vũ Quang Vinh và vở "Thiên tình sử vua Solomon", "Vua Hùng kén rể". Vở "Duyên trời" chị dựng cho Nhà hát Chèo Việt Nam). Tôi không bao giờ quên những năm tháng cả hai chị em còn trẻ trung ấy, hai chị em vừa được làm nghề lại có điều kiện giúp nhau có chút nhuận bút nuôi con trong những ngày gian khó.

Những năm tháng cuối đời, do tuổi cao nên sức khỏe chị bị giảm sút dẫn đến việc não kém hoạt động. Chị lâm vào tình trạng nhớ nhớ quên quên.

Con gái Đào Uyên của chị bảo: “Mẹ em lúc nào cũng khát bạn, luôn muốn bạn đến chơi”. Mỗi lần thấy tôi đến ánh mắt chị lấp lánh vui. Chị vẫy vào phòng rồi đặt chiếc gối xuống bên cạnh tay vỗ vỗ lên mặt gối bảo em nằm xuống đây hai chị em trò chuyện. Nhưng nào có trò chuyện được gì khi hỏi đến chuyện gì chị cũng không nhớ. Lần cuối tôi đến cách đây cũng đã lâu - trông thấy tôi chị cười cười. Chị có nhớ em là ai không? Lại cười cười mãi lúc lâu mới thốt lên “Ngát”! Tôi không ngờ chị nhắc tên tôi lần ấy lại là lần cuối cùng.

Khi tôi đang viết những dòng này về chị thì con gái Đào Uyên của chị gọi điện chia sẻ mẹ nằm viện nửa tháng bọn em thấy mẹ mệt quá rồi thì xin đưa về nhà. Mẹ về buổi sáng thì chiều tối là đi. Vậy là cả cuộc đời sôi nổi chị đã để lại ở sau lưng. Chị nhẹ nhàng bay về miền mây trắng.

Đạo diễn, NSND Phạm Thị Thành đã ra đi thanh thản và nhẹ nhõm như thế đấy.

Nguyễn Thị Hồng Ngát

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.