Trách ai ăn giấy bỏ bìa

Có câu ca dao đã khiến chúng ta lâu nay tranh cãi và quyết tìm hiểu cho bằng được: “Trách ai ăn giấy bỏ bìa/ Khi thương thương vội khi lìa lìa xa”. Xét về phép đối xứng, ắt phải là “thương vội”/ “lìa mau” mới chuẩn chứ nhỉ? Xin thưa, “lìa mau” vẫn còn có lúc gặp lại; chứ chưa nói hết cái ý bẽ bàng, cay đắng của “lìa xa” là kẻ đó đã “qua cầu rút ván”, “một đi không trở lại”, chớ có trông mong gì nữa.

Ta hiểu sao cho đúng về từ ăn/ăn giấy trong câu ca dao này?

Hiểu thế nào, ta bàn sau nhưng trước hết cần dừng lại với từ “ăn”. Nhà văn Nguyễn Tuân kể lúc lên chơi chùa Yên Tử: “Ngọn đèn vừa tỏ bấc thì sư cụ Tâm Hoan cũng sà xuống cái bục gỗ mọt lát của ngôi chùa nghèo. Ông Ph.Đ thủ lễ đứng dậy xin lỗi và xin phép nhà chùa để ăn thuốc” (Tàn đèn dầu lạc); lại kể có người khen ông phán En-Lờ: “Gớm, người anh em dạo này mát mặt quá, lại mua được cả radio để ăn thuốc” (Ngọn đèn dầu lạc). Dù dùng từ “ăn” nhưng “ăn thuốc” lại hàm nghĩa là hút của dân làng bẹp, tiếng lóng còn gọi dân “ken cờ” là chỉ hạng người nghiện thuốc phiện.

Trách ai ăn giấy bỏ bìa -0
Kỹ thuật làm giấy ngày xưa.

Tùy ngữ cảnh, thay vì dùng từ “ăn” người ta còn dùng từ “xơi”, chẳng hạn, “Vào vườn hái quả cau xanh/ Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu” hoặc “Lạy trời cho cả gió nồm/ Cho kẹo tôi chảy cho mồm tôi xơi” (ca dao)… Thế nhưng không chỉ có thế, trong tiểu thuyết “Lều chõng”, nhà văn Ngô Tất Tố viết: “Ông chủ nhà trọ hớn hở bưng đĩa mứt bí ở nhà dưới lên và đặt vào cạnh khay nước, rồi đon đả vừa cười vừa nói: - Xin rước các quan xơi nước”. “Xơi” đây nghĩa là uống, thật ngoạn mục. Hoặc từ “dùng”, chẳng hạn, trong truyện ngắn “Những chiếc ấm đất”, nhà văn Nguyễn Tuân viết lúc sư thầy trò chuyện: “Rồi kéo cụ Sáu vào trai phòng dùng một tuần nước”. “Tuần” có nghĩa lần, lượt, ở đây hai người chỉ uống một lượt nước đổ đầy ấm sau khi đã cho trà vào đó, uống hết một ấm trà này rồi thôi, chứ không nhiều hơn.

Ngày xưa, cúng tế ở đình làng, tất nhiên có rượu, trầu cau, sau đó, người ta cũng uống cũng ăn nhưng cách gọi lại khác. Chẳng hạn, ai được uống rượu đã dâng cúng thần ở đình làng gọi là “ẩm phúc” - ý nói uống lấy sự may mắn, được phúc. Trầu cau thì sao? Trong tác phẩm “Nhà nho” của Chu Thiên có đoạn:

Ồng Hai Tín bưng cơi trầu ra mời Tuyết:

- Xin rước cô mời khẩu trầu lộc thánh.

Cô tươi cười từ chối:

- Rước các cụ ạ, cháu không biết ăn trầu.

Còn oản trên bàn thờ Phật, người ta dùng từ gì? Cũng trong truyện ngắn trên của nhà văn Nguyễn Tuân còn có chi tiết sư thầy nói với chàng trai trẻ: “Cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối vừa hạ xuống, già ép cháu thụ một ít lộc Phật”. “Thụ” là nhận lấy. Nhận để ăn, vì thế mới có câu trả lời: “Bạch cụ, cháu ăn mặn ở nhà vẫn còn lửng dạ”. Sư thầy dùng từ tinh tế đến thế là cùng. Trong ngữ cảnh này, dù là ăn nhưng các từ xơi, đớp, chén, nhai, hốc, táp, tọng, ngoạm…; dù là uống nhưng các từ nốc, tợp, nhắp, húp, tu, xơi…, tạm thời “đi chỗ khác chơi”, chớ lân la, béng mảng mà rườm tai thiên hạ.

Về từ “xơi”, một khi đã ăn uống bao giờ người cũng tuân nguyên tắc “ăn chín, uống chín” là thức ăn nấu chín, nước đun sôi nhưng với câu nói, thí dụ, một người kể: “Trong trận đó, cả đại đội đối phương đã bị quân ta xơi tái” là chúng bị ăn tươi nuốt sống? Không, hàm nghĩa là bị tiêu diệt ở mức độ nhanh, gọn.

Trở lại với câu “Trách ai ăn giấy bỏ bìa”,  ta hiểu là “ăn” ra làm sao? Nhà văn Nguyễn Đức Lập chia sẻ trên trang Facebook cá nhân: “Ngồi trên bộ ván ngựa, bà Ba Thời trải rộng tờ giấy quyến, lớn bằng tờ nhật trình khổ lớn. Bà cẩn thận xếp đôi chiều dọc của tờ giấy, bà xếp đôi nữa, rồi lại xếp đôi nữa. Bà dùng dao rọc theo những lằn xếp. Tờ giấy, như vậy, được rọc ra thành tám mảnh, chiều dài vẫn giữ y nguyên. Tự nhiên, bà nói: Rọc giấy như vậy kêu bằng ăn giấy. Miếng giấy, tao rọc làm 8 vun, kêu bằng ăn 8, nhiều người hà tiện, rọc thành 16 vun, kêu bằng ăn 16. Nhưng giấy ăn 16, điếu thuốc ngắn ngủn, kéo chưa đủ 3 hơi đã hết. Tao thà chịu tốn giấy, ăn 8, đặng vấn điếu nào đáng điếu nấy, hút mới đã. Không chờ không đợi mà tôi còn mừng hơn là khi không bắt được vàng thoi bạc nén vì bỗng dưng, bà ngâm nga:

Trách ai ăn giấy bỏ bìa

Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa

Bà cắt nghĩa liền: Thằng Tám, mày thấy không? Giấy quyến đâu có bìa, hổng có cái gì đáng mà phải bỏ hết. Vậy mà có những kẻ ăn giấy, bày đặt bỏ trên, bỏ dưới, bỏ tả, bỏ hữụ. Những kẻ ăn giấy bỏ bìa này chánh thị là ba cái quân điệu bộ kiểu cách lỏng nhách, mà lại kiêu căng phí phạm bạc hẳn không ai bằng”. Từ giải thích này, tác giả viết tiếp: “Té ra, giấy ở đây là giấy quyến để vấn thuốc, và ăn giấy là như vậy đó, chớ giấy không lẽ bỏ vô miệng mà ăn được. Và, có nghe bà Ba Thời giải thích như vậy, tôi mới hiểu được tại sao cái kẻ "ăn giấy bỏ bìa" lại "khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa" (Hết trích).

Qua giải thích này, về chữ nghĩa, ta thấy gì?

“Miếng giấy, tao rọc làm 8 vun”, vun trong ngữ cảnh này tức là 8 mảnh rời ra dùng để vấn thuốc. Có lẽ “vun” là phương ngữ vùng miền, vì tìm trong từ điển do người miền Nam biên soạn như “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895), chỉ có giải thích: “Vun: Đắp lên, đổ đống, cơi lên”; “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” (1994) do Nguyễn Văn Ái chủ biên còn cho biết có từ “vun chùn: đầy tràn” tức đầy có ngọn”; “Phương ngữ Nam Bộ” (2005) của Bùi Thanh Kiên kể thêm “vun lù: đầy lắm, gần tràn ra ngoài”.

Hiểu “vun” là các mảnh rời ra bằng nhau (như giấy quyến dùng vấn thuốc hút), nếu đúng vậy phải viết “vuông” là hiểu theo nghĩa: “Một miếng gần như có các cạnh bằng nhau” - theo “Phương ngữ Nam Bộ” (2005)? Không đâu, viết đúng chính tả phải là “Dun: Phần nhỏ tờ giấy quyến rọc theo bề dài để vấn thuốc hút: Rọc thành 6 dun” - “Việt Nam tự điển” (1970) của Lê Văn Đức, do Lê Ngọc Trụ hiệu đính; “Dun giấy: miếng giấy dài và hẹp có bề ngang bằng bề dài điếu thuốc vấn. Người ta xếp tờ giấy quyến thành nhiều lớp và dùng dao rọc” - “Phương ngữ Nam Bô”å (2005) cho biết.

Rõ ràng “dun” chứ không phải “vun”.

Còn “ăn giấy” thì sao?

Vậy, khi rọc giấy quyến ra nhiều dun vấn thuốc để hút có gọi là “ăn giấy”? Như đã biết từ “ăn” vốn có nhiều nghĩa, trong đó còn có nghĩa:  “Chia ra làm nhiều phần, chấp, trị giá: Ăn giấy, ăn năm, ăn sáu, 1 đồng ăn 8…” - theo “Việt Nam  tự điển” (1970). Vậy, khi bà Ba Thời giải thích: “Rọc giấy như vậy kêu bằng ăn giấy” là chính xác, bởi tờ giấy đó đã được “chia ra làm nhiều phần”.

Và, bà nói tiếp: “Giấy quyến đâu có bìa, hổng có cái gì đáng mà phải bỏ hết. Vậy mà có những kẻ ăn giấy, bày đặt bỏ trên, bỏ dưới, bỏ tả, bỏ hữu”. Nếu thế, ta giải thích ra sao từ “bìa/ bỏ bìa”? Giấy quyến là dùng để rọc ra nhiều dun vấn thuốc để hút, nhiều tờ xếp lại gọi là thếp/ thếp giấy, chứ nào có ai đóng lại và bên ngoài còn có cho cái bìa? Chính bà Ba Thời cũng nói: “Giấy quyến đâu có bìa”.

Vậy, “bìa” trong ngữ cảnh này là gì?

Chính là “lề”.

Khi viết chữ lên trang giấy phải chừa lề, còn hút thuốc thì không cần bỏ lề, “Vậy mà có những kẻ ăn giấy, bày đặt bỏ trên, bỏ dưới, bỏ tả, bỏ hữu”. Đáng trách là vậy. Khi nói “bìa” chính là “lề” hoàn toàn không suy đoán mà “nói có sách, mách có chứng”: “Bìa: lề, chéo, lớp ngoài - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895).

Tuy nhiên, do “lề” còn là từ đồng âm - như ta đã biết chính là lề thói, lề luật, luật phép, thói tục, cách thức đã quen như tục ngữ có câu “Đất lề quê thói”. Thế thì, “giấy” ở đây không chỉ nói về giấy dùng vấn thuốc hút mà trong ngữ cảnh này, chính là nhằm chỉ theo nghĩa của các từ mà “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) ghi nhận như “trình giấy”: trình giấy phép, trình giấy tờ; “coi giấy”: coi xét giấy tờ; “có giấy”: có giấy tờ làm chứng, có phép; “đứng giấy”: thủ ký, điềm chỉ vào giấy v.v… “Trách ai ăn giấy bỏ bìa”, còn được hiểu là trách ai đó đã làm việc gì đó đã ngang nhiên bỏ qua “lề” theo nghĩa vừa nêu. Ấy là nói trong vấn đề liên quan về pháp lý, văn bản giấy tờ đã không thực hiện đúng theo lề, theo khuôn phép.

Thế nhưng tại sao từ việc này (cũng như việc “bỏ lề/ bỏ bìa” trong việc vấn thuốc lá) lại dẫn đến “Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa” là nói đến tình cảm lứa đôi? Sở dĩ như thế, vì “giấy” với người miền Nam còn được sử dụng ám chỉ người con gái. Tùy vùng miền, nếu đã có hàng loạt câu so sánh đã thể hiện trong ca dao như thân em như thể cánh bèo, như cỏ ngoài đồng, như miếng cau khô, như giếng giữa đàng, như tấm lụa đào, như chẽn lúa đòng đòng… thì trong Nam còn có câu so sánh khác. Câu này được tìm thấy trong “Câu hát góp” (Recueil de chansons populaires) in năm 1901 của Huỳnh Tịnh Paulus Của:

Thân em như giấy nửa tờ

Chớ nghi mà tội chớ ngờ mà oan

Do câu trên đã có từ giấy - “Trách ai ăn giấy bỏ bìa” là trách ai đó đã làm một việc vô phép tắc, bỏ lề thói/ thói tục nên người ta lợi dụng sự đồng âm để “bắt cầu” qua giấy nhằm chỉ người con gái để dẫn đến tình huống: “Khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa”. Sự liên tưởng này hoàn toàn hợp lý bởi cả hai trường hợp cũng đều đáng trách như nhau, chẳng khác gì:

Trách ai vặn khóa bẻ chìa

Đôi ta mới ngộ lại lìa xa nhau.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.